Trang chủ
Hotline: Văn phòng (02033.854497) - Ban tuyển sinh (02033.851240 hoặc 02033.6289225)

Trường Cao đẳng Công nghiệp - Xây dựng

Tên giao dịch: Constructional and Industrial College

Địa chỉ: Phương Đông - Uông Bí - Quảng Ninh
Điện thoại: 033.854497 Fax: 033.854302

 

 

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP VÀ XÂY DỰNG
QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

          PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU

 

 

 

 1- Vị trí địa lý:
          Trường CĐ Công nghiệp và Xây dựng, đứng chân tại Tiểu khu Liên Phương - Xã Phương Đông – Thành Phố Uông Bí.
          Phía Bắc giáp núi Nóc, xa hơn về phía trong là danh sơn Yên Tử, thuộc xã Thượng Yên Công sát Quốc lộ 18B dọc theo vòng cung Đông Triều. Phía Nam giáp Quốc lộ 18A, bên kia là thôn Bí Thượng - Xã Phương Đông, Ra ngoài một chút là xã Phương Nam, ranh giới phân định hai tỉnh Quảng Ninh và Thành phố Hải Phòng là con sông Đá Bạc - Nối liền tỉnh Quảng Ninh với các tỉnh, thành phố vùng đồng bằng sông Hồng là Quốc lộ 10. Phía Đông là một số thôn của xã Phương Đông, đi tiếp là phường Thanh Sơn, Yên Thanh, Cách trung tâm Thị xã Uông Bí 7 km. Cách thành phố Hạ Long, thủ phủ Tỉnh Quảng Ninh khoảng 40km. Cách biên giới Việt – Trung trên 200 km dọc theo Quốc lộ 18A. Phía Tây giáp xã Phạm Hồng Thái Đông, đi chừng 15km là Mỏ than Mạo Khê, 22km là huyện lỵ Đông Triều. Một vùng đất được mệnh danh là “địa linh nhân kiệt” ở tất cả các thời dựng nước và giữ nước. Từ đây về Hà Nội theo Quốc lộ 18A qua Phả Lại về Bắc Ninh rẽ Quốc lộ 83 hoặc đến Sao Đỏ, huyện Chí Linh rẽ về Quốc Lộ 15 đều thuận tiện trên dưới 100km.
2- Tình hình kinh tế văn hoá xã hội:
         Trước khi thành lập trường, khu vực Liên Phương phần lớn là dân tộc Hoa ở rải rác khu vực Cửa ngăn, Bãi Dài, Dốc Đỏ, sau sự kiện “Người Hoa” 1979. Chỉ có chừng trên 10 hộ dân quê Hưng Yên ra khai hoang. Đất đai nhìn chung còn hoang sơ, cằn cỗi, rừng rú, lau lách, muông thú còn khá nhiều. Ngay cạnh Nhà trường là trụ sở sơ tán của Xí nghiệp Thi công Cơ giới, thuộc Công ty Xây dựng Mỏ than.
         Tình hình dân trí còn rất lạc hậu, vấn đề an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội không được đảm bảo.

3- Sự vận động trước khi thành lập nhà trường:
         Sau chiến thắng lịch sử mùa xuân năm 1975, hoà bình lập lại, thống nhất hai miền Nam – Bắc, sau 30 năm chiến đấu liên tục và anh dũng, nhiệm vụ giải phóng dân tộc đã hoàn thành. Cách mạng chuyển sang giai đoạn mới: Cả nước quá độ đi lên Chủ nghĩa xã hội với sự khó khăn chồng chất: Toàn bộ cơ sở hạ tầng như nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ, đường xã, cầu cống… bị phá huỷ. Nhiều nơi trong tỉnh Quảng Ninh như Hạ Long, Cẩm Phả, Uông Bí bị tàn phá nặng nề trong hai cuộc chiến tranh phá hoạt của máy bay giặc Mỹ xâm lược.
         Sự lãnh đạo sáng suốt, dày dặn kinh nghiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam; tiềm năng phong phú về tài nguyên; lực lượng lao động dồi dào…Song những hậu quả của chiến tranh và tàn dư của chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, lao động thủ công, năng suất thấp. Quản lý kinh tế phân tán kém hiệu quả, thiên tai dồn dập; vết thương chiến tranh chưa kịp hàn gắn lại phải dồn sức đối phó với những chính sách thù địch của bọn đế quốc, câu kết với bọn phản động trong ngoài nước, mưu toan làm suy yếu nước ta. Gây cho ta những khó khăn thử thách vô cùng to lớn.
         Trước tình hình đó, tại Đại hội đại biểu Đảng Lao động Viêt Nam lần thứ IV (12-1976) đã đề ra chủ chương đường lối chiến lược nhằm nhanh chóng phục hồi nền kinh tế quốc dân, với chủ trương lấy công nghiệp hoá làm then chốt, thúc đẩy nền kinh tế khác làm cơ sở vững chắc cho việc tiếp tục đưa Đất nước tiến lên CNXH. Dước khẩu hiệu “Tất cả cho sản xuất, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả vì Tổ quốc giầu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân”.
         Bộ Điện và Than được thành lập (Được tách ra từ Bộ Công nghiệp nặng). Các cơ sở Nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ được khẩn trương phục hồi.
         Tuy vậy do lực lượng lao động kỹ thuật, phần lớn có trình độ, trẻ, khoẻ, thợ bậc cao… đã được huy động vào guồng máy chiến tranh. Một số khá lớn trong số đó đã hy sinh, là thương phế binh hoặc già yếu không còn khả năng tiếp tục trở lại các nhà máy, xí nghiệp làm việc. Họ đã về quê làm ăn sinh sống. Số trẻ khoẻ tiếp tục đi học trung học, cao đẳng, đại học hoặc đi theo trào lưu lao động hợp tác Quốc tế… do vậy các ngành công nghiệp từ địa phương đến trung ương đều thiếu cán bộ, công nhận kỹ thuật rất nghiêm trọng.
         Các trường chuyên nghiệp, nhất là số trường dạy nghề, ở khu vực Uông Bí, Quảng Ninh hầu hết là trường bên cạnh xí nghiệp. Qui mô đào tạo manh mún, nhỏ nhoi. Mỗi năm chỉ đào tạo trên dưới 200 học sinh/trường. Do vậy cung không đủ cầu.
         Để bù đắp lượng lao động thiếu hụt trên. Hàng loạt trường đào tạo công nhân kỹ thuật được thành lập thay thế các trường bên cạnh xí nghiệp để đào tạo lực lượng lao động đáp ứng kịp thời cho nhu cầu của các bộ ngành. Khu vực Uông Bí hồi đó có các trường Công nhân cơ điện – của Nhà máy cơ điện Uông Bí, Trường Công nhân mỏ than Vàng Danh, Trường CN thuộc xí nghiệp Cơ khí sửa chữa, Trường CN thuộc xí nghiệp Cơ giới, Trường CN thuộc xí nghiệp Vận tải, trường CN thuộc xí nghiệp than Mạo Khê, trường CN thuộc nhà máy điện Uông Bí .v.v..
         Hệ chính quy có hai trường: Trường Công nhân mỏ Hữu Nghị Việt – Xô, trường CNKT mỏ Yên tử do Đảng, nhân dân Liên – Xô và Ba Lan giúp ta xây dựng trừ năm 1976.
        Trường Đào tạo nghề Cơ giới và Xây dựng được thành lập trong hoàn cảnh như vậy.
        PHẦN II: NHÀ TRƯỜNG NGÀY ĐẦU THÀNH LẬP
        I- Tên nhà trường ngày đầu thành lập
       Trường đào tạo Công nhân Kỹ thuật Cơ khí, vận hành xe máy thi công - gọi tắt là trường công nhân kỹ thuật cơ khí. Thành lập ngày 01-10-1977 – Theo quyết định số 1880/ĐT-TCCB3 ngày 01-10-1977 của Bộ Điện và Than do Thứ trưởng Trần Anh Vinh ký. Nhà trường là đơn vị thành viên của Công ty xây dựng mỏ than.

QĐ thành lập Trường đào tạo CNKT Cơ khí và VH xe máy thi công

 

             Theo quyết định trên Trường CNKTCK được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 trường cạnh xí nghiệp: Xí nghiệp CKSC, Xí nghiệp vận tải. Xí nghiệp thi công cơ giới. Cả 3 xí nghiệp và nhà trường đều thực thuộc Công ty xây dựng mỏ Than – Nay là công ty Than Uông Bí.
            Ngày đầu thành lập nhà trường hình thành 3 phân hiệu: Phân hiệu Cơ khí ở thông Thượng Thông, xã Hồng Thái Đông – Đông Triều. Phân hiệu Vận tải ở thôn Tân Lập – Xã Phương Đông - Thị xã Uông Bí. Phân Hiệu cơ giới ở Tiểu khu Liên Phương – Xã Phương Đông – Uông Bí.
             II. Số cán bộ giáo viên, CNV ngày đầu thành lập:
             1- Phân hiệu cơ khí hoạt động chung với cơ quan hiệu bộ tại thôn Thượng Thông, xã Hồng Thái Đông, huyện Đông Triều có 25 CBCNV gồm các Ông bà: Trần Xuân Mai (Cán sự quản trị), ông Mai Thế Hiển KSCK giáo viên, Bùi Huy Tài y sĩ, Nguyễn Thị Dung y tá, Đào Thanh Sơn KS điện, giáo viên, Nguyễn Quang Thanh Trung cấp nổ, giáo viên, Nguyễn Quốc Thịnh, Trần Huy Đại, Bùi Bá Tuyên, Lê Văn Thành, Mai Thị Lý giáo viên dạy nghề. Nhân viên tiếp phẩm: Nguyễn Văn Thêm, Nguyễn Văn Long, Nhân viên cấp dưỡng: Cao Thị Hoa, Nguyễn Thị Liên, Vũ Thị Bích, Trần Thị Dư, Tạ Thị Trường, Nguyễn Thị Sợi, Hoàng Thị Thích, Hoàng Thị Mễ, Trương Thị Na, Đỗ Thị Loan, Nguyễn Thị Phụ, Nhân Viên quản lý Đào Trung Hữu.
            2- Phân hiệu vận tải có 20 người: Ông Trần Quang Thành, Lê Văn Ba, Vũ Văn Kính, Đào Trung Hoa (ytá), Ninh Văn Phút, Trần Ngọc Thanh, Đỗ Trí Nguyện, Nguyễn Xuân Kéo, Phạm Quang Đắc, An Ngọc Tuyến, giáo viên lái xe. Nguyễn Thị Bản (quản lý), Lê Huy Sự (Tiếp Phẩm) Nguyễn Thị Thái (thủ kho), Nguyễn Thị Hương, Tràng Thị Tâm, Bùi Thị Dừa, Nguyễn Thị Phấn, Âu Thị Loan, Trịnh Quang Thịnh (cấp dưỡng), Trần Thị Bích giữ trẻ.
            Ông Trần Quang Thành làm đội trưởng đội xe cho đến khi về hưu.
            3- Phân hiệu cơ giới có 32 người: Ông Đỗ Trọng, Đinh Duy Ngọ CB, Đỗ Tuấn Khanh TCKT, Trần Thị Kim Dung KS máy XD, Tô Văn Hưởng KS Cơ khí chế tạo, Lê Đình Tông TC máy XD, Nguyễn Thị Vo y tá, Nguyễn Văn Đa NVQT, Lê Tử Minh, Giang Thành Chung, Chu Đức Duy, giáo viên tay nghề gạt, Phạm Thị Sáu NVKT, Nguyễn Năng Hải, Nguyễn Văn Thìn, Dương Văn Dự, Trần Xuân Thu, Tấn Thị Nguyên, Phạm Thị Sánh, Phạm Thị Dính, Chử Thị Toàn, Lưu Thị Hoa, Phạm Thị Thái, Nguyễn Thị Qui, Phí Thị Tuấn, Trần Thị Xuân, Nguyễn Thị Nhuận, Đoàn Thị Đao cấp dưỡng, Nguyễn Thị Hỷ giữ trẻ, Vi Văn Thưở, Nguyễn Ngọc Thưởng BV, Vũ Văn Cường CN.
            III- Bộ máy nhà trường ngày đầu thành lập
            Bộ Điện và Than ủy quyền cho Giám đốc Công ty xây dựng mỏ than (Nay là công ty than Uông Bí) căn cứ vào tình hình thực tế để ra quyết định về bộ máy nhà trường:
            Công ty Xây dựng mỏ than ra quyết định số 75 XDMT-TCNS ngày 31/01/1978 của Giám đốc công ty Xây dựng mỏ than do giám đốc công ty Lê Hữu Quân ký, nhà trường có 1 hiệu trưởng, từ 01 đến 02 hiệu phó và các bộ môn chuyên môn nghiệp vụ: Phòng giáo vụ, Phòng tổ chức nhân sự (có bảo vệ), phòng hành chính quản trị (có nhà ăn), ban kế hoạch vật tư, ban kế toán tài vụ, ban y tế, ban kiến thiết và xưởng trường.
            Cho đến đầu tháng 01-1078 thêm một số cán bộ, nhân viên được rút từ các nhà máy, xí nghiệp bổ sung cho nhà trường và do vậy bộ máy nhà trường mới chính thức hình thành.
            Theo đó nhân sự ngày đầu của nhà trường được bố trí như sau: 

 

 

 

          

 

  Cố Hiệu trưởng Trần Đình Tụng (HT:1977 - 1978) 

 

 

1- Ban giám hiệu: Ông Trần Đình Tụng – Hiệu trưởng.
(Chưa có ai làm Phó hiệu trưởng).
2- Phòng Tổ chức nhân sự:
         - Trưởng phòng: Ông Đỗ Trọng.
         - Nhân viên: Bà Nguyễn Thị Nhâm.
3- Phòng giáo vụ:
         - Trưởng phòng: Ông Thân Văn Chúc.
         - Các Giáo Viên: Mai Thế Hiển, Đào Thanh Sơn, Trần Huy Đại, Nguyễn Quốc Thịnh, Bùi Bá Tuyên, Đỗ Tuấn Khanh, Trần Thị Lý…
4- Phòng hành chính quản trị:
        - Trưởng phòng ông Đinh Duy Ngọ.
        - Nhân viên các ông bà Nguyễn Văn Đa, Nguyễn Năng Hải
5- Trưởng ban KH – vật tư Ông Lê Văn Ba
6- Ban tài vụ:
       - Trưởng ban Ông Lý Kế Quang (Người Việt gốc Hoa).
7- Ban thanh tra bảo vệ thành lập 8-1978.
8- Ban Y tế thành lập năm 1982.
9- Xưởng trường thành lập đầu năm 1982.
10- Ban kiến thiết thành lập cuối năm 1983.
IV- Chức năng nhiệm vụ Trường CNKT Cơ khí:
      Theo quyết định 1880ĐT – TCCB3 ngày 01-10-1977 chức năng nhiệm vụ của nhà trường đào tạo các nghề: Cơ khí sửa chữa, cơ khí chế tạo, vận hành máy thi công, lái xe, lái cẩu, bổ túc cán bộ, công nhân của công ty theo hình thức tập trung và luân huấn về các mặt kỹ thuật, nghiệp vụ.
 V- Qui mô đào tạo của Trường CNKT Cơ khí:
1- Qui mô đào tạo của nhà trường là 550 học sinh/ năm. Trong đó phân ra: Cơ khí sửa chữa 100 học sinh, Vận hành máy thi công 500 học sinh, cơ khí chế tạo 100 học sinh, lái xe ô tô, lái cẩu 100 học sinh, bồi dưỡng cán bộ công nhân 50 người.
2- Thời gian, bậc thợ đào tạo, bồi dưỡng:
            - Đào tạo các loại công nhân cơ khí sửa chữa, cơ khí chế tạo: 2 năm, bậc thợ 2/7.
            - Vận hành máy thi công học 2 năm, bậc thợ 3/7.
            - Lái xe ô tô, lái cẩu học 18 tháng bậc thợ 1/3.
            - Bồi dưỡng cán bộ công nhân theo yêu cầu , nội dung trình độ mà cán bộ và công nhân phải có để định rõ đối tượng tuyển sinh và thời gian bồi dưỡng. Nhưng thời gian không quá 01 năm.
            Theo đó nhân sự của nhà trường ngày đầu được bố trí như sau:
VI- Hệ thống chính trị Trường CNKT Cơ khí:
             1- Tổ chức Đảng: Có 01 chi bộ, 03 tổ Đảng ở 3 phân hiệu. Ông Đào Duy Thán là bí thư chi bộ đầu tiên.
            Đảng viên gồm có: Đỗ Trọng, Trần Xuân Mai, Nguyễn Thị Nhậm, Đào Duy Thán, Lý Kế Quang, Đinh Duy Ngọ, Lê Phùng, Lê Văn Ba, Trần Quang Thành, Ninh Văn Phút, Lê Huy Sự, Chu Đức Duy, Nguyễn Năng Hải, Dương Văn Dự, Vi Văn Thưở, Đào Trung Hữu.
            2- Tổ chức đoàn thanh niên lao động Việt Nam:
            - Bí thư: Nguyễn Văn Đảng.
            3- Tổ chức Công đoàn:
            - Chủ tịch Ông Mai Thế Hiển.
VII- Tình hình năng lực CBGV:
           Trong tổng số 77 CNVC có 4 người có trình độ kỹ sư đó là các thầy cô giáo Trịnh Thị Kim Dung máy xây dựng, Tô Văn Hưởng KS CK chế tạo, Mai Thế Hiển KSCK, Đào Thanh Sơn KS Điện và 4 người có trình độ Trung cấp: Nguyễn Quang Thanh, Bùi Huy Tài (Y sĩ), Lê Đình Tông, Đỗ Tuấn Khanh.
VIII- Cơ sở vật chất Trường CNKT Cơ khí:
1- Nơi ăn ở, học tập:
            Ngoài 6 gian nhà cấp 4 do xí nghiệp bàn giao lại (Nay là nhà làm việc 2 tầng). Còn lại là trên 5000m2 nhà tạm tranh tre, nứa lá đã quá niên hạn sử dụng làm nhà ở, nhà ăn, nhà học cho thầy trò.
2- Phương tiện thiết bị dạy học:
            - Xe ô tô có 5 xe tập lái do hãng “Giải Phóng” của Trung Quốc sản xuất viện trợ cho nước ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Bàn, ghế, bảng phục vụ cho học tập còn rất thô sơ. Thày trò toàn bộ các nghề đầu “học chay”.
3- Tài liệu giáo trình: Chắp vá, lạc hậu.
 

 

  Phần III:  VỪA ĐÀO TẠO VỪA XÂY DỰNG
                CƠ SỞ VẬT CHẤT KỸ THUẬT NHÀ TRƯỜNG.
  

            Trước khi thành lập nhà trường, trong mô hình trường cạnh xí nghiệp đã có 124 học sinh học nghề các lớp K76 gồm lái xe ô tô 30 học sinh, sửa chữa ô tô xe máy 32 học sinh, nguội chế tạo 31 học sinh, lái máy xúc, gạt 31 học sinh và các lớp K77 gồm 228 học sinh Quảng Nam Đà Nẵng ra học, 32 học sinh lớp sửa chữa, 34 học sinh lớp nguội, 34 học sinh hàn, 25HS Tiện… do các trường cạnh xí nghiệp tuyển sinh chuyển sang hoàn thành tiếp chương trình. Toàn bộ số học sinh này đã tốt nghiệp ra trường vào đầu năm 1978. 10 học sinh trong đó có các anh Nguyễn Văn Ngái, Dương Sĩ Đình, Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Văn Minh, Nguyễn Thị Hồi, Trương Thị Sông, Trần Xuân Móc, Bùi Văn Đỉnh, Nguyễn Tuấn Khanh, Ngô Quốc Trí… ở lại xây dựng nhà trường.
            Triển khai thực hiện Nghị quyết TW lần thứ IV, sau khi đất nước hoàn toàn giải phóng. Do yêu cầu mở rộng sản xuất và tăng nhanh sản lượng các hoạt động trong nền kinh tế quốc dân. Riêng trên địa bàn Quảng Ninh hàng loạt nhà máy, xí nghiệp ngành than được khẩn trương phục hồi như nhà máy nhiệt điện Uông Bí, Nhà máy Cơ điện Uông Bí, các Xí nghiệp than Vàng Danh, Mạo Khê, Hồng Gai, Cẩm Phả, Mông Dương… nhu cầu đòi hỏi cấp bách tăng cường đội ngũ công nhân kỹ thuật bù đắp cho số công nhân đã được điều động cho chiến trường số hi sinh, số đã già yếu chuyển về quê, số còn trẻ đi học, hay lao động hợp tác tại các nước trong phe xã hội chủ nghĩa. Riêng “Sự kiện người Hoa” bọn xấu đã kích động lôi kéo trên 15 vạn người Hoa bỏ sản xuất, công tác chạy ra nước ngoài. Trong đó có hơn 1 vạn lao động trong các cơ quan, xí nghiệp.
             Với trường CNKT cơ khí thời kỳ này vừa mới được thành lập, do hoàn cảnh nhà trường đang còn phân tán 3 nơi. Cơ quan hiệu bộ và phân hiệu cơ khí ở thôn Thượng Thông, xã Phạm Hồng Thái, Huyện Đông Triều. Phân hiệu vận tải ở thông Tâm Lập, phân hiệu cơ giới ở tiểu khu Liên Phương – Xã Phương Đông – Thị xã Uông Bí. Trừ 01 ngôi nhà cấp 4 đã quá cũ nát do xí nghiệp thi công Cơ giới để lại. Còn toàn bộ ở cả 3 nơi trên 3000m2 nhà tạm lợp tranh tre, nứa lá hầu hết đã quá niên hạn sử dụng.
            Ngày 03 – 4 – 1978 Nhà trường đổi tên thành Trường Công nhân kỹ thuật xây lắp thuộc Công ty Xây lắp Uông Bí (theo quyết định số 662 ĐT-TCCB3, ngày 3-4-1978 của Bộ điện và Than do thứ trưởng Trần Anh Vinh ký)

 

 Quyết định đổi tên thành Trường Công nhân kỹ thuật xây lắp thuộc Công ty Xây lắp Uông Bí


 

 

 

Cố Hiệu trưởng Phạm Văn Tiếp (HT: 6-1978÷2-1981) 

 

         Ngày 16-6-1978 ông Phạm Văn Tiếp về làm quyền Hiệu trưởng thay ông Trần Đình Tụng về làm Trưởng phòng TCCB Công ty xây lắp Uông Bí (QĐ số 586 ĐT-TCCB1 ngày 10-4-1978).
         Đến ngày 08-10-1979 ông Tiếp được Bộ Điện và Than bổ nhiệm chính thức làm hiệu trưởng.
         Ông Vũ Bằng được điều về để xúc tiến thành lập Đảng bộ nhà trường từ đầu năm 1979. BCH đảng bộ lâm thời gồm các ông Vũ Bằng, Phạm Văn Tiếp, Đỗ Trọng, Đinh Duy Ngọ, Lê Văn Ba.
         Nghị quyết kỳ họp thứ nhất của BCH Đảng bộ lâm thời nhà trường khẳng định quyết tâm: …”Chậm nhất từ cuối năm 1980 đến đầu năm 1981 nhà trường phải tập trung về một mối. Với phương châm vừa đào tạo vừa xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, trước hết phải xây dựng được một số nhà ở… Có giải quyết được vấn đề này mới nhanh chóng ổn định tổ chức, từng bước cải thiện đời sống thầy trò yên tâm xây dựng và khẩn trương đào tạo đội ngũ CN kỹ thuật cho các nhà máy, xí nghiệp trong công cuộc phục hồi và phát triển kinh tế đất nước vừa bước qua 2 cuộc chiến tranh…”
          Với tinh thần trên, trong 3 năm 1978 – 1980 bằng nguồn vốn do Công ty Xây dựng mỏ than cung cấp và công sức đóng góp của thầy trò nhà trường đã xây dựng được 7 nhà 6 gian cấp 4 có tổng diện tích trên 1338m2 gồm 4 nhà làm việc kiêm nhà ở cho số cán bộ, nhân viên xa gia đình, 2 nhà tập thể, 1 nhà ăn, 3 dãy ký túc xá khu B. (học sinh học nghề hồi đó phải lao động xây dựng nhà từ 3-4 tháng).
          Về đời sống nhìn chung đây là thời kỳ còn rất khó khăn. Mọi chế độ đều được cấp theo tem phiếu.
          (Trong khi đó do nhà cửa sơ sài, quản lý lỏng lẻo của nhà trường, toàn bộ số tem phiếu được cấp cho CBCNV, HS tiêu chuẩn nửa năm 1980, cũng trong năm này Bà Nguyễn Thị Nga (Vợ ông Nguyễn Năng Hải làm thủ quỹ để mất trên 10.000đ. Do vậy khó khăn lại chồng chất khó khăn.)
          Sau chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nguyện vọng tha thiết của Đảng ta, dân tộc ta là được sống trong hòa bình. Nhưng trước sự lớn mạnh của nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa bọn đế quốc và phản động đã câu kết với nhau chúng gây ra cái gọi là “Nạn kiều”, xúi dục, ép buộc người Hoa sống ở Việt Nam bỏ về Trung Quốc và đi ra nước ngoài, gây mất đoàn kết và hận thù giữa các dân tộc. Ở thị xã Uông Bí có 595 hộ với 5520 người Việt gốc Hoa sinh sống thì 558 hộ với 4186 khẩu bị bọn xấu xúi dục kích động ra đi.
          Thực hiện chủ trương chung của TW Đảng, Tỉnh ủy, Đảng bộ nhân dân Uông Bí đã tìm mọi biện pháp vận động bà con người Hoa ở lại Việt Nam. Những người cố tình ra đi được chính quyền nhân dân tạo mọi điều kiện cho họ ra đi an toàn và thuận lợi. Có 32 học sinh người Hoa được Nhà trường tạo điều kiện cho về gia đình cùng đi Trung Quốc hoặc đi nước ngoài.
         Ông Lý Kế Quang nguyên kế toán trưởng nhà trường do không về Trung Quốc đã được điều về làm nhân viên kế toán Công ty xây dựng mỏ than trong thời kỳ này.
         Trong tình hình biên giới phía Bắc ngày càng xấu đi, bọn phản động thường xuyên lén lút sang nước ta hoạt động gây rối, bắt cóc, đe dọa cán bộ và ráo riết chuẩn bị chiến tranh. Thực hiện chủ trương của trên Thị xã Uông Bí đã thành lập 01 trung đoàn dự nhiệm sẵn sàng lên đường làm nhiệm vụ. Hồi đó Nhà trường chúng ta đã cử các động chí Trần Xuân Mốc, Nguyễn Văn Chiến, Nguyễn Văn Minh, Ngô Quốc Chí tham gia tái ngũ làm khung cho trung đoàn này, sau đó ông Tô Văn Hưởng, Đào Thanh Sơn 2 kỹ sư là giáo viên được điều cho trường Hậu cần của Quân khu 3 (Tả ngạn) làm giáo viên kỹ thuật.
         Với khẩu hiệu “Hướng về biên giới” cán bộ, CNVC, học sinh nhà trường đã đóng góp hàng chục ngàn ngày công vào việc vót chông tre cùng toàn bộ lực lượng CNVC, học sinh xung phong ra các huyện miền đông. Trong 2 tháng chúng ta góp phần cùng nhân dân thị xã Uông Bí đào đắp được 200000m3 đất đá xây dựng phòng tuyến bảo vệ biên giới từ huyện Quảng Hà đến huyện Bình Liêu.
         Ngày 17-2-1979 chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra. Hưởng ứng lệnh tổng động viên của Chủ tịch nước, Phong trào tình nguyện ra bảo vệ biên giới diễn ra sôi nổi. Tại nhà trường đã có gần như 100% cán bộ, Đảng viên, Đoàn viên thanh niên viết đơn tình nguyện xung phong tòng quân bảo vệ biên cương tổ quốc. Trước hết tập trung đào hào, đắp lũy, luyện tập quân sự sẵn sàng chiến đấu bảo vệ hậu phương và là lực lượng dự nhiệm bổ sung cho quân đội thường trực khi cần.
         Về công tác đào tạo chúng ta đã hoàn thành chương trình cho khóa I: 228 học sinh (gồm các nghề nguội, sửa chữa ô tô, tiện, hàn, lái xe ô tô) tốt nghiệp ra trường về các xí nghiệp thuộc Công ty Xây dựng Mỏ than làm việc.
         Trong đó có 165 học sinh Quảng Nam – Đà Nẵng về làm việc tại mỏ than Nông Sơn.
            - 125 học sinh khóa II (hàn 34HS, tiện 25 Hs, nguội 34 Hs, sửa chữa…
         Kịp thời bổ sung cho ngành than và khu vực góp phần cho đội ngũ công nhân khu mỏ tăng lên từ 130400 người lên 169300 người (trong đó công nhân mới chiến trên 40% CNVC toàn tỉnh. Số học sinh quá các trường nghề chiếm tỷ lệ chưa đầy 5%)
        Trong công tác xây dụng cơ sở vật chất: Với lực lượng công nhân của đội xây dựng trên 10 người nhưng nhà trường đã xây dựng được 12 gian nhà cấp 4 làm nhà hiệu bộ, nhà ăn và 24 gian nhà ký túc xá B1, B2.
        Đội ngũ cán bộ giáo viên, trừ số tái ngũ, nhập ngũ, số được tuyển thêm từ học sinh tốt nghiệp ra trường ngày càng nhiều: Năm 1977 có 77 CBGV, năm 1978, 1979 có 102 CBGV, năm 1980 có 104 CBGV. Một phần rất  lớn CNVC, học sinh vấn ở phân tán 3 nơi, nhà ở, nhà ăn, nhà học đều vẫn là tranh, tre, nứa lá, bàn ghế, phương tiện, thiết bị dạy học vấn chưa được bổ sung gì thêm.
        Đời sống CNVC, học sinh đã rất khó khăn, thiếu thốn do chế độ tem phiếu, mất trộm, mất quĩ lại thêm cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và phía bắc nên lại càng khó khăn gấp bội.
         II- GIAI ĐOẠN 1981 – 1985:
        Chiến tranh biên giới qua đi, nhưng hậu quả của nó lại hết sức nặng nề. Nhân dân ta vừa trải qua cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và cuộc chiến tranh biện giới phía Bắc lại phải đương đầu với cuộc chiến tranh phá hoại nhiều mặt của bọn phản động. Thiên tai, lũ lụt liên tiếp xảy ra. Kinh tế chậm phát triển, làm cho đời sống nhân dân đã khó khăn ngày thêm khó khăn… Đây là một phần nguyên nhân quan trọng khiến Đất nước ta lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội khá nghiêm trọng. Tiêu cực nảy sinh ở tất các ngành kinh tế quốc dân. Trong khi đó bên ngoài thì kẻ thù câu kết thực hiện âm mưu làm suy yếu nước ta.
        Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V (họp từ ngày 27 – 31-3-1982) đã đánh giá: “Thu nhập Quốc dân chưa đảm bảo được tiêu dùng xã hội… lương thực, vải mặc, các hàng thiết yếu đều thiếu. Tình hình cung ứng năng lượng, vật tư, giao thông vận tải rất căng thẳng. Chênh lệch giữa thu và chi tài chính, giữa hàng và tiền, giữa xuất khẩu và nhập khẩu còn lớn. Thị trường vật giá không ổn định. Số người chưa được sử dụng lao động còn đông. Đời sống nhân dân lao động còn nhiều khó khăn, nhất là đời sống CNVC…” (trích văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V).
        Tại Đại hội lần này TW đã đề ra 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng CNXH và sẵn sàng bảo vệ vững chắc tổ quốc Việt Nam XHCN cùng với phương hướng nhiệm vụ mục tiêu chủ yếu về kinh tế và xã hội trong những năm 80.
       Đại hội I Đảng bộ nhà trường họp đầu năm 1979, đại hội II họp đầu năm 1981 bầu ông Vũ Bằng làm bí thư Đảng Bộ với 3 chi bộ trực thuộc: Chi bộ phân hiệu cơ khí, Chi bộ phận hiệu cơ giới, chi bộ phân hiệu vận tải.

 

 

  

 Cố Bí thư Đảng bộ Vũ Bằng  

 

            Tại hai đại hội Đảng bộ lần I (cuối năm 1979), lần II (cuối năm 1981) bầu ông Vũ Bằng làm Bí thư. Đã đề ra nghị quyết… “Tăng cường làm tốt công tác giáo dục, tổ chức hiệu quả phong trào thi đua yêu nước, sáng kiến, tiết kiệm, nêu cao ý chí tự lực, tự cường, bằng sức lao động của thầy trò, CNVC nhà trường quyết tâm nhanh chóng hoàn thiện việc xây dựng nhà ở, làm việc, học tập để thu gom nhà trường về tập trung 1 điểm… góp phần cùng cả nước vượt qua những khủng hoảng, căng thẳng về đời sống, đấu tranh chống tiêu cực, trì trệ xã hội vững vàng đưa nhà trường không ngừng đi lên.
            Trong công tác xây dựng nhà trường, nghị quyết 2 kỳ đại hội đều nhấn mạnh: “Phải tăng cường xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật. Có giải quyết được vấn đề này mới đáp ứng được yêu cầu đào tạo và đời sống trước mắt và tạo ra điều kiện để vượt ra khỏi khó khăn trong tương lai…”
            Tháng 02 năm 1981 ông Nguyễn Trọng Thuận được điều từ Phân viện thiết kế Công ty Than Uông Bí về trường làm Hiệu trưởng thay ông Phạm Văn Tiếp đi nhận công tác khác  

 

 

 

 

 Cố NGND Nguyễn Trọng Thuận
(HT: 2/1981 – 11/2000)

           Hồi đó ngoài thời gian đào tạo, sản xuất, xây dựng nhà trường, CNVC, học sinh phát triển rất mạnh phong trào thi đua tăng gia sản xuất tự túc, tự cấp lượng thực, thực phẩm. Ngay trong nhà ăn tập thể, hàng tháng CBCNVC thường xuyên thay nhau đóng góp từ cây rau, cây chuối, củ khoai để cùng chị em chăn nuôi lợn (sự đóng góp này là một trong số tiêu chuẩn thi đua quan trọng).
            Đại hội đảng bộ nhà trường lần thứ III họp ngày 12-10-1983 (tại khu hiệu bộ hiện nay) đã tổng kết đánh giá rút ra bài học kinh nghiệm sau gần 7 năm thành lập về các hoạt động xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức đời sống và chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật và tiếp tục đề ra một số mục tiêu quan trọng trong việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, tổ chức đời sống và chất lượng đào tạo công nhân kỹ thuật và tiếp tục đề ra một số mục tiêu quan trọng trong việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật trong đó chủ yếu là xây dựng nhà ở cho các nhu cầu, bởi cho đến thời điểm này nhà tranh vách đất còn khá nhiều,
            Đại hội bầu ông Đỗ Xuân Thướng làm Bí thư, ông Nguyễn Trọng Thuận làm phó bí thư Đảng ủy (Ông Vũ Bằng nghỉ hưu)..

 

Ông  Đỗ Xuân Thướng
Bí thư đảng ủy 8/1982 – 2/1989

             Trong thời kỳ này Đảng bộ có 37 Đảng viên, sinh hoạt trong 3 chi bộ: Chi bộ đào tạo, chi bộ cơ quan và chi bộ khối sản xuất.
            Như phần trên đã nêu, ngay từ khi ông Trần Đình Tụng, ông Phạm Văn Tiếp (Tháng 11-1981 về trước), sau đến là ông Nguyễn Trọng Thuận làm Hiệu trưởng (từ tháng 11-1981) điều kiện  ngân  sách  của  thời  bao  cấp  vô  cùng  khó khăn. Tuy vậy nhà trường đã bắt đầu có chủ trương thanh toán nhà tạm. Từ năm 1981 đến năm 1985 đã xây dựng thêm 5 nhà ký túc xá, 2 nhà tập thể, 2 nhà trẻ mẫu giáo, 4 nhà học với tổng diện tích 3330m2. Nâng tổng số tiện tích nhà ở lên trên 3600m2 gồm 2 nhà làm việc, 2 nhà kho 6 gian 360m2, 10 dãy ký túc xá học sinh 12 gian 712m2, 10 nhà cấp 4 sáu gian 720m2 làm nhà ăn, nhà ở, nhà kho, 3 nhà lớp học (khu nhà học 3 tầng ngày nay) và 426m2 nhà xưởng, nhà ăn khu B.
            Về công tác đào tạo, đến tháng 3-1984 thay vì phòng đào tạo quán xuyến toàn bộ các hoạt động đào tạo, nhà trường xúc tiến thành lập các ban nghề:
            - Ban nghề Nề chuyên đào tạo nghề xây dựng (Hà Văn Lưu trưởng ban).
            - Ban nghề Mộc: Chuyên đào tạo nghề mộc công nghiệp, mộc dân dụng, khảm trai, trạm khắc (Nguyễn Nho Hùng trưởng ban).
            - Ban nghề Sửa chữa: Chuyên đào tạo nghề sửa chữa ô tô, xe máy (Gạt, xúc, cẩu).
            - Ban nghề cơ giới: Chuyên đào tạo nghề lái xe ô tô, xúc, gạt, cẩu.
            - Số học sinh đào tạo được từ năm 1981-1985 là 878 học sinh gồm các nghề xúc 76, gạt 88, sửa chữa ô tô 70, nề 257, mộc 118, cốt thép 59, lái xe 138, kế toán 20, nấu ăn 41, bê tông 20. Tất cả được quyết định chuyển về các nhà máy xí nghiệp trong công ty Xây dựng Mỏ và than sau đổi thành công ty Xây lắp Uông Bí.
            Về cơ sở vật chất, ngoài nhà ăn, ở, phòng học được xây dựng thêm còn phương tiện, thiết bị chưa mua sắm bổ sung được bao nhiêu.
            Về đội ngũ cán bộ giáo viên thời kỳ này tiếp tục được tăng cường: năm 1981 có 115 người năm 1982 có 120 người năm 1983 có 139 người, năm 1984 có 142 người, năm 1984 có 180 người. Trong đó phần đông là cán bộ, nhân viên và công nhân lao động. Đội ngũ giáo viên có tăng nhưng không đáng kể. Chất lượng đội ngũ giáo viên nhìn chung chưa cao.
            Về đời sống thu nhập hoàn toàn theo lương (rất thấp). Thu nhập thêm hồi đó chủ yếu trông chờ vào những dịp lễ, tết để được phân phối thêm cân thịt, con cá do nhà trường chăn nuôi.
            Về đời sống tinh thần: Nhà trường đã tổ chức một số giải chủ yếu là bóng chuyền nội bộ CNVC nhà trường và giải quân sự cấp thị xã Uông Bí. Học sinh tham gia một số giải điền kinh của địa phương và tỉnh Quảng Ninh đều đạt giải cao như giải nhất, nhì, ba được cờ thưởng, bằng khen, giấy khen của Công ty XDMT, Công ty than Uông Bí, UBND thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh…
            - Năm học 1981-1982 và năm học 1982-1983 nhà trường được giám đốc Công ty Xây lắp Uông Bí thưởng cờ thưởng thi đua khá nhất.
           III- Giai đoạn 1986-1990
           Đất nước ta vừa thoát khỏi chiến tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược kéo dài hơn 20 năm. Hơn ba năm sau lại phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh biên giới phía tây Nam và phía Bắc. Thiên tai dồn dập xảy ra nền kinh tế cả nước cũng như trên địa bàn thị xã Uông Bí phải đáp ứng 3 yêu cầu cấp bách cơ bản là: Bảo về tổ quốc, đời sống nhân dân và xây dựng cơ sở vật chất cho Chủ nghĩa xã hội. Trong khi đó tình hình quốc tế và khu vực ngày các phức tạp. Các thế lực thù địch vừa tổ chức phá hoại vừa bao vây cấm vận Việt Nam. Do ta duy trì chế độ bao cấp quá lâu cho đến thời kỳ này không còn phù hợp, nền kinh tế nước ta đã bộc lộ những yếu kém trong quản lý kinh tế và xã hội. Nạn lạm phát suy thoái kinh tế ngày càng trầm trọng, tiền lương thực tế giảm sút, công nhân thiếu việc làm, hàng hóa khan hiếm, đời sống người lao động nhất là đội ngũ CNVC vô cùng khó khăn. Tiêu cực phát triển ngày càng dữ dội trên mọi mặt xã hội, đất nước.
          Trước sự sống còn của dân tộc, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã họp từ ngày 15 đến 18-12-1986 tại Hà Nội (ông Nguyễn Văn Linh làm Tổng bí thứ) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện, mở ra bước ngoặt lịch sử trọng sự nghiệp  xây dựng CNXH ở Việt Nam. Vạch ra phương hướng mục tiêu chủ yếu phát triển kinh tế xã hội trong 5 năm 1986 – 1990.
          Đại hội khẳng định “Quyết tâm đổi mới công tác lãnh đạo của Đảng theo tinh thần cách mạng và khoa học” nhằm đưa đất nước thoát ra khỏi thình trạng khủng hoảng suy thoái kinh tế xã hội.
          Theo đó do hàng chục năm bao cấp, sống bằng cơ chế tem phiếu. Nhà trường cũng như hàng ngàn nhà máy, xí nghiệp, trường học cả nước chưa kịp thích ứng đã phải co cụm lại. Hàng trăm đơn vị kinh tế phải giải thể. Người lao động thất nghiệp thiếu việc làm. Hàng trăm ngàn người phải nghỉ hưu, mất sức… ảnh hưởng tinh thần chung đó, do kinh phí bị cắt giảm, đời sống CNVC nhà trường cũng vô cùng khó khăn. Học sinh đào tạo ra không nơi tiếp nhận. Qui mô đào tạo hạ xuống có năm chỉ có trên 100 học sinh học tập (1986: 113HS, 1987: 139HS, 1988: 114HS. 1989: 146HS, 1990: 152HS).
          Đứng trước nguy cơ có khả năng bị giải thể hoặc sáp nhập vào một số trường khác. Đại hội IV, đại hội V Đảng bộ nhà trường đã họp tháng 10 năm 1986 và 11-1988. Tại đại hội này ông Đỗ Xuân Thướng tiếp tục được bầu làm bí thư Đảng ủy, ông Nguyễn Trọng Thuận tiếp tục giữ chức Hiệu Trưởng và phó bí thư Đảng ủy.
          Tại các kỳ đại hội toàn thể cán bộ Đảng viên đã tập trung kiểm điểm, đánh giá kết quả tổ chức thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ III, lần thứ IV và tiến hành học tập nghiên cứu, quán triệt sâu sắc nghị quyết Đại hội BCHTW Đảng khóa VI và nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XII về tiến bộ chính trị, nghị định 217 của Hội đồng Bộ trưởng về quyền tự chủ sản xuất kinh doanh của các cơ sở sản xuất. Để áp dụng sao cho có hiệu quả trong đơn vị nhà trường.
         Chủ trương đổi mới của Đảng những ngày đầu khởi xướng đã như một cơn lốc mạnh làm thay đổi toàn bộ cục diện kịnh tế đất nước. Những tập thể, cá nhân thiếu bản lĩnh sống trông chờ quá nhiều vào nhà nước nay mất đi chỗ dựa đã không chịu đựng nổi buộc phải giải thế. Nhưng cũng lại là làn gió mát nhanh chóng làm thay đổi không khí vốn dĩ luôn nóng bỏng, ngột ngạt của cơ chế “xin cho”. Nhiều đơn vị mạnh dạn bung ra làm ăn phát đạt.
         Trường ta hồi ấy đứng đầu là ông Nguyễn Trọng Thuận người luôn bình tĩnh “đứng mũi chịu sào” dùng Đảng Bộ lãnh đạo nhà trường vượt qua bao phong ba thử thách đạt được những kỳ tích tạo nền tảng vững chắc cho suốt cả quá trình phấn đấu đi lên của nhà trường trong những năm sau này.
         Thành tích nổi bật của Nhà trường trong các năm 1986 đến 1990 là:
        - Đã không có ai phải nghỉ việc kể cả số lao động trực tiếp sản xuất, xây lắp.
        - Xóa bỏ bao cấp chuyển sang hạch toán kinh doanh.
        - Tổ chức nhận thầu xây dựng các công trình tại địa phương tạo việc làm, cơ sở thực tập sản xuất cho thầy trò và nguồn thu phục vụ xây dựng CSVCKT và cải thiện đời sống thầy trò, người lao động.
        - Duy trì đều đặn nhịp độ đào tạo.
        Trong giai đoạn này về cơ sở vật chất kỹ thuật nhà trường đã xây dụng được 1400m2 nhà cấp 3 làm nơi làm việc học tập.
        Trong đó:
        - Nhà hiệu bộ 2 tầng, giảng đường, thư viện, phòng truyền thống 820m2
        - Nhà học lý thuyết số 1: 3 tầng 580m2 và 2 nhà cấp 4 làm nhà học lý thuyết 524m2, 2 xưởng thực hành 460m2 cấp 4.
        - Từ phong trào sáng kiến tiết kiệm, tự trang, tự chế đồ dùng học tập nhà trường đã xây dựng được trên 10 phòng học lý thuyết, phòng học chuyên môn phục vụ cho các ban nghề mới được thành lập.
        - Từ các hoạt động làm than lộ vỉa (Doanh thu trên 200.000USD, nhận thầu xây dựng các công trình (mỗi năm từ 500.000 đến 4-5 triệu đồng (giá trị tiền những năm 80) và một phần thiết bị viện trợ của UNIXEP nhà trường được trang bị khá tươm tất về đồ dùng dạy học máy móc cho xưởng trường, mua được thêm một số ô tô vận tải vật tư hàng hóa, phục vụ cán bộ đi công tác và dạy học… như: xe zin, gấu, máy gạt, Uoát, Lađa cùng hàng chục đồ dùng cẩm tay. Một phần chu cấp nâng cao đời sống người lao động. CNVC, giáo viên đều được phân phối ti vi, radio, nhu yếu phẩm khác. Do vậy trong khi nhiều đơn vị khác phải giải thể hoặc buộc phải cho người lao động nghỉ việc theo nhiều hình thức thì nhà trường vẫn giữ nguyên quân số làm ăn khấm khá, đời sống dần đi vào ổn định, công tác hệ chính quy vẫn giữ được nhịp độ bình thường, mội năm tuyển được từ 300 đến 400 học sinh. Chất lượng đào tạo ngày thêm tốt hơn, Các phong trào thi đua, hoạt động văn hóa văn nghệ, TDTT liên tục phát triển. Đội ngũ cán bộ, giáo viên, CNVC đưc đi tham quan học hỏi ở trong và ngoài nước. Nhà trường đạt dạnh hiệu tiên tiến và tiên tiến xuất sắc từ năm 1985 đến năm 1990 được UBND tỉnh Quảng Ninh thưởng cờ thi đua khá nhất khối trường dạy nghề các năm 1988, 1990.
            - Năm 1989 được nhà nước thưởng huân chương lao động hạng 3.
            - Ông Nguyễn Trọng Thuận hiệu trưởng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú.
            - Hàng chục tập thể phòng ban và cá nhân cán bộ, giáo viên nhà trường được các cấp, các ngành từ TW đến địa phương tặng thưởng huy chương, bằng khen, giấy khen về thành tích trong công tác đào tạo, giáo dục, lao động, sản xuất và các phong trào thi đua, văn hóa văn nghệ TDTT…
            Tháng 1-1989 Đại hội V Đảng bộ nhà trường bầu ông Nguyễn Hữu Ngọ làm Bí thư Đảng ủy, ông Đỗ Xuân Thướng vế giữ chức trưởng ban kiểm tra Đảng ủy Công ty than Uông Bí.
            Về phương hướng nhiệm vụ đại hội đề ra tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết tự lực tự cường xây dựng nhà trường vượt qua mọi khó khăn thử thách, xây dựng cơ sở vật chất nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ giáo viên, nâng cao chất lượng dạy học.
            Ngày 01-01-1990 Nhà trường được đổi tên thành Trường Công nhân Kỹ thuật Cơ giới và Xây dựng trực thuộc Công ty than Uông Bí.
            Công ty Than Uông Bí giao cho nhà trường thành lập phòng KCS, sau đổi tên thành Trung Tâm KCS với hai chức năng thí nghiệm Vật liệu xây dựng và thử nghiệm chất lượng than cho toàn công ty.
            IV- Giai đoạn 1991 – 1995
            Cuối năm 1991 Cộng hòa Liên bang xã hội chủ nghĩa Xô Viết và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần và chính trị nước ta. Đặt toàn Đảng, toàn dân ta và CBCNVC nhà trường đứng trước khó khăn thử thách mới cực kỳ nghiệt ngã. Để tiếp tục phấn đấu đưa đất nước đi lên trong quá trình cải cách và mở cửa. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII được tiến hành từ ngày 24 đến 27-6-1991 tại Hà Nội. (Ông Đỗ Mười được bầu làm tổng bí thư). Đại hội đã thảo luận và thông qua các văn kiện quan trọng: Cương lĩnh xây dựng Đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. Báo cáo chính trị của BCHTW Đảng và phương hướng nhiệm vụ chủ yếu của 5 năm 1991-1995. Báo cáo xây dựng Đảng và điều lệ Đảng…
            Trước đó ngày 15-9-1991 Đảng bộ nhà trường đã tiến hành đại hội khóa VI với tinh thần “Trí tuệ đổi mới dân chủ, kỷ cương và đoàn kết”. Đại hội đã nghiêm túc kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết Đại hội 4 và Đại hội đã khẳng định “Trong tình hình trong nước và quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, với tinh thần đoàn kết, chủ động, sáng tạo… Đảng bộ, cán bộ, giáo viên, CNVC Trường CNKT với quyết tâm cao, kiên trì thực hiện đổi mới, phấn đấu đạt được những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực đào tạo, giáo dục sản xuất, công tác. Mà trọng tâm là thực hiện đa dạng hóa loại hình đào tạo, giáo dục, sản xuất, công tác. Mà trọng tâm và thực hiện đa dạng hóa loại hình đào tạo, tích cực đâu tư xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, giáo viên, cải tiến đổi mới nội dung chương trình, mục tiêu giảng dạy…”
            Đại hội VI, Đại hội VII họp sau đó 2 năm đã bầu ông Nguyễn Hữu Ngọ làm Bí thư Đảng Ủy.
            Trong hai nhiệm kỳ này ngoài việc tiếp tục xúc tiến mở mang trường sở như xây dựng nhà học lý thuyết 3 tầng, mua thêm một số phương tiện, thiết bị dạy học.
            Tổ chức liên doanh liên kết với Trung tâm giáo dục Hạ Long, Cẩm phả mở các lớp lái xe hệ B, các lớp đại học tại chức cho cán bộ, giáo viên nhà trường và khu vực Uông Bí.
            Tiếp tục nhận thầu xây dựng công trình nhà Nhà hiệu bộ, Nhà đa năng trường CĐ Sư phạm, Chợ trung tâm Uông Bí, Nhà văn hóa, khai thác than lộ vỉa tạo công ăn việc làm cho người lao động và cơ sở thực tập sản xuất cho thầy trò có thêm nguồn thu cho vốn tự bổ sung của Nhà trường mỗi năm từ 4 – 7 tỷ đồng. Theo quy chế dân chủ trích quỹ xây dựng Nhà trường 60% còn lại phân phối cho cán bộ, giáo viên CNVC, một phần đưa vào bữa ăn cho học sinh.
            Kết quả đào tạo của giai đoạn này như sau:
            Học sinh tốt nghiệp ra trường hệ A có ngân sách Nhà nước cấp 1565 học sinh. Trong đó gồm các nghề: Xúc 124HS, gạt 247HS, sửa chữa ô tô 317HS, Điện thi công 109HS, điện ô tô 132HS, nghề nề 160HS, nghề mộc 26HS, khảm trai 45HS, chạm khắc 63HS, lái xe ô tô 342HS.
            Học sinh lái xe hệ B: Đào tạo tại khu vực Hồng Gai, Cẩm Phả, Uông Bí mỗi năm có từ 500 đến 700 người học.
            Phong trào thi đua “Hai tốt” giai đoạn này phát triển khá rầm rộ. Mỗi năm đã có một số giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp trường, cấp Tỉnh, cấp công ty. Tiêu biểu như các thầy cô giáo: Tô Văn Hưởng, Nguyễn Nho Hùng, Nguyễn Thị Bột.
Hàng chục học sinh giỏi đạt danh hiệu giỏi cấp trường. Có 8 học sinh giỏi cấp đầu ngành đầu tiên do Bộ Giáo dục – Đại học, trung học chuyên nghiệp tổ chức tại trường, các học sinh đạt giải nhất là Tường Duy Sơn, Đỗ Duyên Ninh, Giáp Viết Thuật đạt giải nhất nghề mộc.
            Về số lượng công nhân viên chức nhà trường thời kỳ này do mở rộng ngành nghề kinh doanh, sản xuất nên tăng khá nhanh: Năm 1991 có 262 người (nữ 84), năm 1992 có 245 người (nữ 84), năm 1993 có 251 người (nữ 81), năm 1994 có 307 người (nữ 87), năm 1995 có 342 người (nữ 111). Trong đó đội ngũ giáo viên đã được bổ sung thêm một số từ các nguồn tuyển dụng, công ty điều về, đi học các trường Cao đẳng, đại học.
            Hiệu quả kinh doanh, sản xuất từ các nguồn nhận thầu xây dựng công trình, tham gia khai thác sản xuất than, đào tạo công nhân hệ B… ngày càng cao. Đến cuối thập kỷ 90 nhà trường nhận thêm Trạm thí nghiệm vật liệu xây dựng. Được bộ xây dựng công nhận mang mã số Las 29XD. Tháng 12-1993 Bộ Năng lượng quyết định cho nhà trường tổ chức tại phòng thí nghiệm vật liệu xây dựng thành Trung tâm khiểm tra chất lượng sản phẩm than và hiệu chỉnh thiết bị điện. Gọi tắt là Trung tâm KCS Than Uông Bí, trực thuộc công ty than Uông Bí. Giám đốc là Nguyễn Trọng Thuận, ông Nguyễn Văn Nhật làm phó giám đốc. Mỗi năm thu về nhà trường một phần đáng kể kinh phí, góp phần cải thiện thêm đời sống CNVN nhà trường.
            Thời kỳ này nhà trường nhận thầu xây dựng các công trình đường điện 6Kv Vàng Danh, 2 nhà thi đấu Công ty than Uông Bí, 3,2km đường Bê tông than thùng Trường PTCS Thượng Yên Công, Trạm điện Khe Tam…
            Doanh thu năm 1991: 2,2 tỷ đồng, năm 1992: 2,8 tỷ đồng, năm 1993: 4,2 tỷ đồng, năm 1994: 5 tỷ đồng, năm 1995: 9,4 tỷ đồng. Do vậy về đời sống CNVC được cải thiện khá cao. Nhiều gia đình đã mua sắm được các phương tiện thiết bị gia dụng đặt tiền như ti vi, tủ lạnh, xe máy, xây dựng nhà cửa khang trang, tiện nghi. Đời sống văn hóa xã hội không ngừng được cải thiện. Theo đó đời sống tinh thần, vật chất của học sinh cũng được năng cao hơn so với những năm trước đây.
            Từ năm 1991 đến năm 1995 Nhà trường đã được các cấp khen thưởng:
            - Huân chương lao động hạng hai (1993)
            - Cờ thưởng luân lưu của thủ tướng Chính phủ (1991)
            - Bằng khen của Thủ tướng chính phủ (1992)
            - Cùng hàng chục bằng khen, giấy khen cho tập thể, cá nhân đã có thành tích trong phong trào thi đua “Hai tốt”. Thi đua lao động sản xuất, sáng kiến tiết kiệm…” của các cấp từ TW đến địa phương.
            Nhà trường liên tục giữ vững danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc. Được UBND Tỉnh Quảng Ninh thưởng cờ “Dẫn đầu khối trường dạy nghề các năng 1991, 1995, 1996, 1998. Tổng công ty than Việt Nam thưởng cờ “Dẫn đầu khối trường dạy nghề’ các năm 1994, 1995, 1996.
            Cờ thi đua khá nhất khối HCSN của Liên đoàn Lao động Quảng Ninh tặng năm 1996, cờ thứ nhì năm 1997.
            V: Giai đoạn 1996-2000.
            Từ ngày 27-5-1996 Trường Công nhân Ký Thuật Cơ giới và Xây dựng là đơn vị thành viên của Tổng công ty than Việt Nam. Ngày 22 tháng 7 năm 1997 đổi tên thành Trường Đào tạo nghề Cơ giới và Xây dựng tiếp tục là thành viên của Tổng công ty Than Việt Nam cho đến ngày 20-3-1999 về trực thuộc Bộ Công nghiệp (QĐ số 47/1999/BCN ngày 20/3/1999)
            Trong giai đoạn này về tổ chức nhà trường, tách bộ phận đào tạo hệ B thành lập Trung tâm đào tạo hệ mở rộng do Hiệu trường làm giám đốc, Ông Lê Đình Tông làm Phó giám đốc: Chuyên đào tạo nghề lái xe ô tô, bổ túc kèm cặp nâng bậc cho các doanh nghiệp, liên doanh liên kết với các trường Đại học Bách khoa Hà nội, Học viện Tài chính đào tạo các lớp tại chức.
            Trung tâm KCS Than Uông Bí được Tổng Công ty Than Việt Nam chuyển về trực thuộc Trung tâm đo lường và giám định sản phẩm Tổng Cty than Việt Nam (QĐ số 226TVN-TCCB ngày 10/2/1996 do Tổng giám đốc Đoàn Văn Kiển ký), thành lập thêm Xí nghiệp SXXL và Kinh doanh tổng hợp (QĐ số 1437 TVN-TCCB2 ngày 4-7-1996) Do hiệu trưởng làm giám đốc. Trong đó có các phòng Kế hoạch sản xuất, Phòng nghiệp vụ, Phòng kỹ thuật, Ban than và Trạm thí nghiệm, hiệu chỉnh điện do ông Nguyễn Văn Nhật là trưởng trạm (QĐ số 1569 TVN-TCCB2 ngày 17-7-1996).
           Thực hiện nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VIII họp từ ngày 28-6-1996 đến ngày 1-7-1996 tại Hà Nội (Ông Đỗ Mười làm tổng bí thư, sau đó tháng 12-1997 tại hội nghị TW Đảng lần thứ 4 chuyển giao chức vụ Tổng bí thứ đảng cho ông Lê Khả Phiêu) với nhiệm vụ tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa Đất nước vì mục tiêu Dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
           Từ năm 1996 đến năm 2000 Đảng bộ nhà trường đã tổ chức 3 kỳ đại hội (lần thứ VIII, IX, X bầu ông Hoàng Đình Chiêu là bí thư Đảng Ủy, Ông Nguyễn Trọng Thuận tiếp tục giữ chức Hiệu trưởng, Phó bí thưc Đảng ủy Nhà trường.
            Thời gian này, ngoài việc nhận thầu xây dựng các công trình, nhà trường còn được Tổng Công ty Than Việt Nam giao cho một khu mỏ tổ chức khai thác. Do vậy lực lượng lao động thời kỳ này không ngừng gia tăng năm 1995 có 342 người năm 1996 có 394 người. Cao điểm nhất là năm 1997 có 454 người. Riêng công nhân làm than có 1 đội với trên 53 người, hai đội sản xuất trên 100 người, phòng KCS than, KCS Điện trên 30 người. Khối đào tạo và nghiệp vụ chỉ có trên 130 người.
            Với tinh thần “Trí tuệ, đổi mới, dân chủ, kỷ cương và đoàn kết” các kỳ đại hội đã nghiêm túc đáng giá kết quản đạt được trong nhiệm kỳ và nghiêm khắc kiểm điểm những hạn chế, thiếu sót trong công tác lãnh đạo. Việc tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết TW2 khó VIII về công tác đào tạo giáo dục và khoa học công nghệ. Đại hội đã khẳng định: Trong điều kiện tình hình trong nước và quốc tế có nhiều biến động phức tạp, với tinh thần đoàn kết, chủ động và sáng trí thực hiện đổi mới, phấn đấu đạt được nhứng kết quả quan trọng trong tất cả các lĩnh vực đào tạo, giáo dục, sản xuất công tác. Đặc biệt hiệu quả là xóa bỏ bao cấp, mạnh dạn tháo gỡ khó khăn, tập trung đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng các công trình ngày càng hiệu quả. Giữ vứng an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
         Nhà trường đã xúc tiến chương trình xây dựng, mở mang trường sở, nâng cao dần năng nực đội ngữ cán bộ giáo viên. Một số cuộc thi học sinh giỏi các cấp được tổ chức. Trong đó kỳ thi học sinh giỏi cấp ngành được tổ chức tại trường. Nhà trường cử 12 học sinh dự thi, 8 em đạt giải, trong đó có 2 giải nhất (Tường Duy Sơn, Nguyễn Văn Tuệ, Giáp Viết Thuật…) Số giáo viên giỏi cấp trường, cấp tỉnh, cấp bộ không ngừng gia tăng. Đã có một số học sinh giỏi cấp nhà nước trong các nghề xây dựng như học sinh Nguyễn Văn Tường, cấp tỉnh như Nguyễn Thị Phương…
            Tuy vậy cho đến những năm cuối của thập kỷ 90 sau khi sản xuất thu hẹp, nhà trường chỉ còn nhận thầu xây dựng thêm nhà hiệu bộ Trường CĐ Sự phạm Quảng Ninh (Được công đoàn Xây dựng và Bộ Xây dựng thưởng huy chương vàng chất lượng cao).

 

 

 

  Công trình đạt huy chương vàng chất lượng cao của Bộ xây dựng 

 

            - Từ năm 1998 kinh phí nhà nước cấp cho đào tạo giảm dần đến cuối năm 2000 chỉ còn khoảng 25%.
            - Bắt đầu từ đầu năm 1999 đến gần kết năm 2000 trong quá trình cuộc chuyển giao cán bộ lãnh đạo, đồng thời với một số khó khăn như:
            - Ngay sau thực hiện Quyết định 47/1999/QĐ-TTg của Chính phủ V.v chuyển nhà trường từ Tổng Công ty than Việt Nam về Bộ Công nghiệp, do thay đổi đơn vị chủ quản từ Tổng Công ty than Việt Nam về Bộ Công  nghiệp do vậy nhà trường không được sản xuất, kinh doanh than do vậy không được vay vốn. Hơn thế, trên 200 lao động hưởng lương ngoài ngân sách, từ năm 1999 trở về trước ngành than vẫn cân đối việc làm, cho vay vốn, điều chỉnh doanh thu. Nay chẳng những thu hồi mỏ than mà còn khấu từ 1,5 tỷ đồng vay của Than Uông Bí trước đây.  

 

   

 

            Quyết định chuyển nhà trường từ Tổng Công ty than Việt Nam về Bộ Công nghiệp 

 

           Về mặt chủ quan: Từ lãnh đạo đến CNVC đều chưa lường hết những thuận lợi, khó khăn trên.
           Mọi người ai cũng chỉ nghĩ đơn thuần về Bộ Công nghiệp chắc phần có ngân sách. Tuy vậy chưa ai nghĩ đến vấn đề công ăn việc làm cho trên 200 cán bộ, công nhân khai thác than và sản xuất, xây dựng ở Xí nghiệp Sản xuất, kinh doanh và dịch vụ tổng hợp của nhà trường. Bởi lý do này nhà trường buộc phải thanh lý hợp đồng số lao động có thời hạn (47 con em trong 2 đợt). Một việc làm ngoài ý muốn của những người lãnh đạo Nhà trường. Lợi dụng tình hình này nhân dịp Ông Nguyễn Trọng Thuận - Hiệu trưởng nhà trường đã đến tuổi nghỉ hưu những công tác chuẩn bị nhân sự và cán bộ kế cận kịp thời, chu đáo do vậy một số cán bộ sẵn có tư tưởng cơ hội đã vận động, lôi kéo lập thành bè cánh, đơn từ kiện tụng gửi đi khắp nơi từ địa phương đến Trung ương (Riêng tại khu vực Quảng Ninh thống kê được số đơn từ nặng trên 2kg) khiến nội tình nhà trường trở lên lục đục, rối ren. Nội bộ nhà trường lâm vào khủng hoảng nghiêm trọng. Đơn từ nặc danh, kiện tụng kéo dài từ giữa năm 1999 đến tháng 11-2000 tạo nên sự nghi ngờ, mất đoàn kết nội bộ, gây tổn hại uy tín, vị thế nhà trường đã tạo dựng vun đắp nên trong suốt 22 năm qua.
            Trước tình hình này Đảng bộ Nhà trường đã có rất nhiều cố gắng cùng lãnh đạo Bộ Công nghiệp, Tỉnh Quảng Ninh, Thị xã Uông Bí có biện pháp phù hợp giải quyết ổn thỏa, thấu tình đạt lý. Những người cơ hội được cán bộ giáo viên, CNVC nhận diện. Cho đến nay một số trong số họ đã về nghỉ chế độ, số còn lại đã chuyển đi nơi khác. Cho đến tháng 11-2000 sau khi việc chuyển giao nhiệm vụ hiệu trưởng từ ông Nguyễn Trọng Thuận sang ông Lương Văn Tiến nội tình nhà trường mới ổn định dần. Các ông Nguyễn Thế Công, Hoàng Đình Chiêu, Nguyễn Khắc Hiển được bổ nhiệm giữ chức Phó hiệu trưởng.   

 

 

 

Đ/c Lương Văn Tiến được bổ nhiệm chức vụ Hiệu trưởng (11/2000)

 

 

 1- Công tác đào tạo giáo dục:
            Từ năm 1996 nhà trường thực hiện chủ trương đổi mới, đa dạng hóa loại hình đào tạo. Các lớp lái xe hệ B được đào tạo thử nghiệm sau đó được phát triển mạnh tại Hồng Gai, Cẩm phả đã được các cấp, các ngành địa phương, tỉnh ngành đánh giá cao về giá trị và chất lượng trong việc mang lớp học đến tận nơi có nhu cầu chẳng những giảm bớt khó khăn cho nhà trường về nơi ăn chốn ở mà có nhu cầu chẳng những giảm bớt khó khăn cho nhà trường về nơi ăn chốn ở mà còn tạo điều kiện cho hàng trăm gia đình có hoàn cảnh khó khăn về kinh phí cho con đi học dễ dàng hơn. Các nhà máy, xí nghiệp có nhu cầu đào tạo được tổ chức đào tạo tại chỗ cũng phấn khởi hơn bởi không bị thiếu hụt lao động.
            - Đây là thời kỳ phong trào thi đua và SKTK, cải tiến, đổi mới chương trình, giáo trình, chế tạo đồ dùng dạy học phát triển cao nhất. Mỗi năm nhà trường xét công nhận và khen thưởng cho các tập thể cá nhân từ 15 đến trên 30 đề tài. Có một số đề tài đã được mạng đi triển lãm thành tựu giáo dục được đánh giá cao, một số trường bạn đã đặt mua đạt giá trị trên 100 triệu đồng. Đề tài Hệ thống Phun đốt xăng TUROBO của thày giáo Nguyễn Tiến Đạt là đề tài lớn có giá trị làm lợi trên 300 triệu đống được Tổng giám đốc TVN công nhận là đề tài cấp Tổng Công ty, thầy giáo Nguyễn Tiến Đạt được thưởng giải thưởng Nguyễn Văn Trỗi năm 2002.
            - Trên 10 bộ giáo trình các nghề đào tạo tại trường đã được biên soạn, cải tiến, đổi mới, tổ chức in ấn, lưu hành trong nội bộ Nhà trường góp phần nâng cao dần chất lượng dạy học các nghề trong nhà trường.
            - Đội ngũ giáo viên đã được tăng cường về chất lượng, trên 40 thầy cô giáo mới tốt nghiệp Cao đẳng, số học đại học tại chức cũng đã thi tốt nghiệp, một số giáo viên trẻ tốt nghiệp các trường cao đẳng, đại học chính quy cũng vào trường công tác. Phong trào thi đua dạy tốt, phấn đầu trở thành giáo viên giỏi các cấp luôn là mục tiêu thường xuyên của các thầy cô giáo. Thời kỳ này ngoài số giáo viên giỏi cấp trường (Trong khoảng 18-30 người), giáo viên giỏi cấp tỉnh (Trong khoảng 8-12 người) đã có một số thầy giáo đi dự các kỳ thi lái xe ô tô giỏi toàn quốc, tuy không đạt thứ hạng cao nhưng đã được công nhận giáo viên giỏi như thầy Lưu Phú Đông, Nguyễn Văn Hồng…
            - Do tiếp tục thực hiện chủ trương mở rộng theo hướng đa dạng hóa loại hình đào tạo, ngoài học sinh hệ chính qui mỗi năm đào tạo theo chỉ tiêu từ 400-500 học sinh, nhà trường còn đào tạo công nhân hệ B chủ yếu nghề lái xe ô tô mỗi năm từ 800 đến 1000 học sinh. Liên kết với một số địa phương, doanh nghiệp đào tạo mới, đào tạo lại, đào tạo nâng bậc công nhân các nghề mỗi năm 200-300 người học.
2- Sản xuất kinh doanh, xây dựng CSVC:
            + Sản xuất kinh doanh: Doanh thu năm 1996: 7,7 tỷ đồng, 1997: 11,7 tỷ đồng, 1998: 12,4 tỷ đồng, năm 1999: 4,5 tỷ đồng, năm 2000: 2,1 tỷ đồng.
            Trong hai năm 1999, 2000 do thay đổi đơn vị chủ quản chuyển từ Tổng công ty Than Việt Nam và trực thuộc Bộ Công nghiệp nhà trường không được Sản xuất, kinh doanh nên không được vay vốn. Hơn thế trên 200 lao động hưởng lương ngoài ngân sách, từ năm 1999 trở về trước ngành than vấn cân đối việc làm, cho vay vốn, điều chỉnh doanh thu. Nay chẳng những thu hồi hai mỏ than mà còn khấu trừ 1,5 tỷ đồng vay của Công ty Than Uông Bí trước đây.
            Về mặt chủ quan: Từ lãnh đạo đến CNVC đều chưa lường trước được những thuận lợi, khó khăn.
            Trong giai đoạn này đã xây dựng được:
            - Nhà ăn 550 chỗ 1100m2.
            - Ký túc xá số 1, 2, 3, 4 (3 tầng) 1728m2 gồm 74 phòng (vệ sinh khép kín) sức chứa 590 học sinh.
            - Sân khấu ngoài trời rộng 192m2
            - Ngoài ra các công trình khác như nhà để xe máy, xe đạp, hàng rào bảo vệ và vườn hoa cây cảnh phía trước nhà hiệu bộ.
  3- Công tác tổ chức đời sống văn hóa, xã hội:
            - Sau 2 năm 1999, 2000 do có những đột biến về cơ chế, nội bộ khủng hoảng việc làm không có… thu nhập thấp, đời sống khó khăn, còn nói chung những năm 1996, 1997, 1998 do đào tạo hệ B, khai thác than, nhận thầu xây dựng và có nguồn kinh phí nhà nước và ngành than cấp nên đời sống thày trò, người lao động không ngừng được đảm bảo.
            - Giải thể nhà ăn tập thể, thành lập trung tâm dịch vụ, ngoài tổ chăm sóc bảo vệ vườn hoa cây cảnh, dọn dẹp môi trường hưởng lương nhà trường “bao cấp” còn toàn bộ trên 20 chị em cấp dưỡng được tổ chức đấu thầu 5 nhà ăn chuyên phục vụ học sinh và tự tổ chức lo lương, tự đóng bảo hiểm.
            - Các hoạt động thi đua tuyên truyền, văn hóa xã hội vẫn duy trì đều đặn, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nhà trường vẫn được giữ vững, uy tín, vị thế nhà trường tại địa phương và trong ngành không ngừng được củng cố và phát triển.
            - Các tổ chức Đảng, đoàn thể nhà trường luôn đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh.
            1996, 1998, Tổng công ty Than Việt Nam thưởng cờ “Dẫn đầu khối trường dạy nghề” các năm 1994, 1995, 1996.
            Cờ thi đua khá nhất khối HCSN của Liên đoàn lao động Quảng Ninh tặng năm 1996, cờ thứ nhì năm 1997.
VI- Giai đoạn 2001-2005:
            Sau khi hoàn thành việc chuyển giao thế hệ lãnh đạo, Đại hội Đảng bộ lần thứ X nhà trường họp ngày 28-12-2000, Ông Nguyễn Thế Công được bầu là Bí thư Đảng ủy, Ông Lượng Văn Tiến phó bí thứ Đảng ủy. (Ông Hoàng Đình Chiêu nghỉ chế độ từ đầu tháng 1-2000).

 Ông Nguyễn Thế Công được bầu là Bí thư Đảng ủy năm 2000

 

Ngày 31-5-2003 Đại hội lần thứ XI nhiệm kỳ 2003-2005 của Đảng bộ Nhà trường ông Nguyễn Thế Công được tái đắc cử Bí thư Đảng ủy, Ông Lương Văn Tiến phó bí thứ Đảng ủy.
            Thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng bộ hai nhiệm kỳ trên, các mặt hoạt động và công tác tổ chức nhanh chóng được sắp xếp cải tiến đổi mới theo hướng ổn định, hiệu quả. Hầu hết chỉ tiêu, kế hoạch đào tạo, sản xuất, công tác đều hoàn thành xuất sắc. Ngân sách nhà nước chu cấp trở lại đầy đủ. Chương trình kế hoạch cải tạo nâng cấp nhà trường giai đoạn II được xúc tiến thực thi, khối sản xuất, xây dựng có công ăn việc làm tương đối ổn định đầy đủ. Một số hoạt động đào tạo như hệ B, bổ túc kèm cặp nâng bậc, liên kết đào tạo đại học, thi lấy giấy phép lái xe mô tô phát triển mạnh… tạo cho nhà trường nguồn vốn tự bổ sung.
            Thu nhập tiếp tục tăng trưởng từ 10% trở lên. Đời sống người lao động không ngừng được cải thiện, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nhà trường được giữ vững.
            Về tổ chức: Ban nghề sửa chữa được tách ra thành lập hai khoa Điện và khoa cơ khí sửa chữa. Theo đó Khoa Điện chuyên đào tạo nghề điện dân dụng, điện công nghiệp, điện tử, điện lạnh, điện nước.
            Khoa Cơ khí sửa chữa: Quản lý thêm đội cơ khí (Trước đây quen gọi là đội xe) chuyên đào tạo nghề sửa chữa ô tô, xe máy.
            Ông Nguyễn Văn Đạt trưởng phòng Đào tạo được Bộ Công nghiệp bổ nhiệm giữ chức Phó hiệu trưởng (QĐ số 2301QĐ-LĐTBXH ngày 13-12-2001)
            Trong giai đoạn này nhà trường đã đã được nhà nước xác định là trường trọng điểm quốc gia (QĐ số 178/QĐ-LĐTBXH ngày 13-12-2001 của Bộ Lao động Thương Binh và Xã hội). Trong năm 2003, nhiều phiên họp cán bộ đã được bàn luận nhiều về việc có nên đề nghị trên xét Thành lập Trường Trung cấp nghề hay thành lập Trường Trung cấp chuyên nghiệp?; nhiều ý kiến cho rằng cứ để trường đào tạo nghề thì còn được hưởng ngân sách nhà nước cấp hàng năm với lượng tương đổi đủ để chi phí lương cho CBGV-CNV và còn một lượng nhỏ cộng với vốn tự có để xây dựng cơ bản, nếu được lên trung cấp thì dứt khoát sẽ bị cắt giảm nhiều, đồng thời hệ trung cấp nghề và cao đẳng nghề mới được đưa vào thực hiện do đó mọi người chưa hiểu gì về nó. Có ý kiến cho rằng nếu thành lập trường trung cấp nghề, cao đẳng nghề thì không thể lên đại học được .v.v.
           Chính vì vậy Bộ Công nghiệp quyết định đầu tư cải tạo nâng cấp nhà trường giai đoạn 2001-2005. Trong đó có sự đóng góp 20% vấn tự bổ sung của nhà trường. Theo đó sau 4 năm thực hiện dự án giai đoạn I nhà trường đã xây dựng mua sắm được:
            - Nhà khách 2 tầng 320m2 nhà cấp 3.
            - 1 ký túc xá học sinh 3 tầng.
            - Hệ thống cấp nước sinh hoạt cho khu cơ quan và học sinh.
            - Xưởng hàn gia công kết cấu kim loại 860m2, Xưởng cơ khí ô tô 860m2, xưởng gò và gia công nguội 480m2, xưởng tiện 400m2, xưởng điện xí nghiệp 2 tầng 450m2.
            - Khu liên hợp thể thao gồm bể bơi (1000m2), sân bóng đá 6000m2, sân thể dục thể chất 600m2, 2 sân cầu lông 200m2.
            - Bãi tập thực hành lái xe ô tô, xúc, gạt rộng trên 50.000m2.
            - Cùng hệ thống đường giao thông nội bộ bằng bê tông chiều dài khoảng 3km, từ đường 18A và trường học đổ bê tông nhựa. Cùng toàn bộ hệ thống vườn hoa cây cảnh từ sau nhà hiệu bộ đến bãi thực hành lái xe ô tô diện tích chừng 10.000m2.
            - Mua sắm trên 20 ô tô, máy xúc, máy nâng hàng cùng hàng chục thiết bị có giá trị gần 10 tỷ đồng phục vụ cho đào tạo.
            Về kết quả đào tạo: Giai đoạn này về số và chất lượng đội ngũ giáo viên được tăng cường lên khá nhiều. 76,11% trình độ cao đẳng, đại học 10 người đang học cao học, 100% có trình độ sự phạm cấp I, cấp II. Hàng năm có từ 40%-50% giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp trường, 16-20% giáo viên giỏi cấp tỉnh, bộ, thêm 2 giáo viên giỏi cấp Quốc gia, trong đó có cô giáo Đặng Thị Tuyết Mai đứng đầu trong tổng số 101 giáo viên giỏi quốc gia thi tại Cần Thơ năm học 2002-2003. Thày giáo Nguyễn Văn Cần cũng đạt giải nhất tại cuộc thi này.
            Các ông Lương Văn Tiến, Nguyễn Văn Đạt được Bộ Công nghiệp công nhận là chiến sĩ thi đua ngành công nghiệp năm 2002.
            Về kết quả đào tạo; ngoài hệ A tuyển được mỗi năm từ 800 đến trên 1000 học sinh. Số học sinh hệ B đến học ngày càng tăng. Năm 2001: trên 1000 học sinh, từ năm 2002-2004 mỗi năm trên 1200 học sinh.
            Do công tác quản lý các mặt kết hợp với vấn đề mới nảy sinh, môi trường, điều kiện học tập, sinh hoạt vui chơi giải trí sau học tập có nhiều tiến bộ, tệ nạn cờ, bạc trích hút đều được sớm phát hiện triệt phá, xử lý kịp thời các em học sinh yên tâm phấn khởi học tập, chất lượng đạo đức và học tập của học sinh ngày càng có thực chất, số học sinh tốt nghiệp có nhiều thuận lợi khi tìm việc làm. Theo đánh giá của các cơ quan chuyên môn từ 70-80% học sinh do nhà trường đào tạo có việc làm sau tốt nghiệp. Số khác về tự tổ chức hành nghề đạt kết quản tốt.
            Về tổ chức đời sống: Do nguồn kinh phí ổn định, việc làm đây đủ, thu nhập bình quân giai đoạn này không ngừng gia tăng, năm 2001: 787.000đ, năm 2002: 973.000đ, năm 2003: 1.456.000đ và tinh thần lá lành đùm lá rách mỗi năm nhà trường quyên góp ủng hộ từ 30-50 cho các quỹ từ thiện, quỹ vì người nghèo, quỹ TBLS, ủng hộ vùng thiên tại báo lụt…
            Các hoạt động tinh thần như văn hóa thể thao được nhà trường tổ chức thường xuyên theo lịch trình đào tạo và kế hoạch thi đua, tuyên truyền của nhà trường.
Các tổ chức Đảng, đoàn thể luôn đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh. Đảng bộ nhà trường được Tỉnh ủy Quảng Ninh tặng cờ Đảng bộ vững mạnh xuất sắc 2 năm liền.
            Năm 2001; 2003 nhà trường được bộ Công nghiệp thưởng cờ Thi đua xuất sắc, Năm 2002 được UBND Tỉnh Quảng Ninh thưởng cờ “Dẫn đầu khối trường dạy nghề”.
            Năm học 2003 – 2004 nhà trường được Chính phủ tặng Cờ đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua.
Cờ thi đua đơn vị dẫn đầu phong trào thi đua
           Cũng trong năm học này nhà trường đứng trước hai lựa chọn: Thành lập trường trung học nghề hay thành lập trường trung học chuyên nghiệp (?). Qua nhiều cuộc thảo luận, phần đông thiên về thành lập Trường Trung học chuyên nghiệp vì anh chị em đều mong nhà trường ngày một vững vàng và nhanh chóng trở thành trường cao đẳng rồi thành trường Đại học; cuối cùng lãnh đạo nhà trường quyết định lập đề án thành lập trường Trung học Công nghiệp và Xây dựng trên cơ sở trường đào tạo nghề Cơ giới và Xây dựng.
           Ngày 02 tháng 11 năm 2004, Bộ trưởng Bộ Công nghiệp ban hành quyết định số: 122/2004/QĐ-BCN về việc thành lập Trường Trung học Công nghiệp và Xây dựng trên cơ sở Trường ĐT nghề Cơ giới và Xây dựng.
           Bước vào năm 2005 Trường Trung học Công nghiệp và Xây dựng phải đối đầu với những khó khăn sau:
          Nền công nghiệp nước nhà và khu vực đang  phát triển mạnh cả về qui mô và khoa học công nghệ. Yêu cầu chất lượng lao động nói chung ngày càng cao đòi hỏi nhà trường phải không ngừng nâng cao năng lực của mình về qui mô đào tạo, về đội ngũ giáo viên, về cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị dạy học...
Về lao động, sản xuất tuy nhà trường đã giải quyết cho một số anh, chị em nghỉ chế độ theo Nghị quyết số 16 của Chính phủ. Tuy vậy vẫn còn gần 80 lao động dôi dư phần lớn là chị em phụ nữ, tuổi cao, sức yếu, lao động phổ thông, bậc để hưởng lương thì cao nhưng trình độ tay nghề lại rất thấp, bên cạnh đó nhà trường phải tự lo phần tăng lương tối thiểu từ 210.000 lên 290.000 và 350.000đồng... Tuy vậy trường cũng có những thuận lợi đó là:
          Sự tăng trưởng kinh tế của cả nước, của ngành công nghiệp nói chung và của Tỉnh Quảng Ninh nói riêng đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp đào tạo của nhà trường. Cơ sở vật chất , máy móc, trang thiết bị phục vụ cho đào tạo đã được đầu tư như nhà học lý thuyết, xưởng trường, ô tô tập lái, máy xúc, máy gạt, máy hàn tự động TIC –MIC, thiết bị điện, điện tử, điện lạnh đã phát huy tác dụng đạt hiệu quả cao. Chất lượng đào tạo không ngừng nâng lên được thị trường chấp nhận; uy tín, vị thế của nhà trường được củng cố và phát triển lên một tầm cao mới. Nhu cầu sử dụng lao động trong các doanh nghiệp tiếp tục tăng, thị trường đào tạo cho các trường dạy nghề ngày càng sôi động và bức thiết.  Đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường đang được tăng cường về số và nâng cao về chất lượng. Quyền chủ động của nhà trường trong việc thực hiện Nghị định số 10 ngày 16-1-2002 của Chính phủ về chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu đã đang được phát huy ngày càng hiệu quả.
Công tác tuyển sinh: Trong bối cảnh vừa mới thành lập tháng 11 năm 2004 do đó nhà trường không có tên trong “Những điều cần biết” của Bộ GD – ĐT không đủ thời gian để quảng cáo rộng ... Tuy nhiên bằng nhiều biện pháp hiệu quả, thiết thực khoá 32 (2005) chỉ tiêu Bộ giao là 300 học sinh hệ trung học và 1200 h/s học nghề. Kết quả tuyển sinh chúng ta đã nhập học 336 học sinh hệ trung học (vượt chỉ tiêu 12%) và nhập học 1297 học sinh học nghề. Tuyển sinh hệ ngắn hạn được 2.471 học sinh, vượt 59,4% so với chỉ tiêu kế hoạch và vượt 56,5% so với năm 2004. Lái xe ô tô hệ mở rộng tuyển được 1.569 học sinh tăng 30,3% so với chỉ tiêu và tăng 23% so với năm 2004, tổ chức thi lấy giấy phép lái xe mô tô cho 24.121 người tăng 0,54% so với chỉ tiêu. Công tác đào tạo lại và thi nâng bậc cho công nhân tại các doanh nghiệp đạt 776 người tăng 55,2% so với chỉ tiêu và tăng 136,5% so với năm 2004, trong đó bồi dưỡng cho 36 cán bộ quản lý cho xí nghiệp sản xuất chế biến than Thị xã Uông Bí.
- Duy trì liên kết đào tạo đại học tại chức cho 163 học viên và 85 học viên cao đẳng chính qui với trường đại học Bách khoa.
♦ Chất lượng đào tạo:
Năm học 2004 –2005 chất lượng đào tạo không ngừng được nâng lên.
- Loại giỏi đạt 17,4% tăng 13,4% so với chỉ tiêu, so năm học trước tăng 5,5%.
- Loại khá đạt 30,7% tăng 2,7% so với chỉ tiêu, so năm học trước giảm 0,7%.
- Loại TB khá đạt 39,9% tăng 4,9% so với chỉ tiêu, so năm học trước tăng 2,3%.
- Loại  TB đạt 11,1%, giảm 18,8% so với chỉ tiêu, so năm học trước giảm 7,3%.
- Kém 0,5%  giảm so chỉ tiêu 2,5%, so năm học trước giảm 0,2%.
♦ Chất lượng giáo dục :
- ĐĐạo đức loại A : 77% tăng so chỉ tiêu 2%, so năm học trước tăng 0,9%
- Đạo đức loại B: 18,7% tăng so chỉ tiêu 1,7% so năm học trước tăng  0,3%
- Đạo đức loại C: 4,2% giảm so chỉ tiêu 1,8%, so năm học trước giảm 1,2%
- Đạo đức loại D: 0,1% giảm so chỉ tiêu 1,9%.
♦ Kết quả tốt nghiệp:
Tỷ lệ tốt nghiệp:    99,2%, tăng 2,2% so với chỉ tiêu
Trong đó:
- Loại giỏi đạt 4,3% tăng 1,8% so với chỉ tiêu,
(so năm học trước giảm 1,5%).
- Loại khá đạt 25,3% tăng 7,3% so với chỉ tiêu,
(so năm học trước tăng 6,2%).
- Loại TB khá đạt 58,9% tăng 23,9% so với chỉ tiêu,
(so năm học trước tăng 0,7%).
- Loại  TB đạt 11%, giảm 33% so với chỉ tiêu,
(so năm học trước giảm 5,4%).
Năng lực, chất lượng giáo viên:
              Trong tổng số 140 giáo viên kể cả giáo viên kiêm nhiệm và hợp đồng. Trình độ đại học trở lên 75%, trình độ cao đẳng 2,8%, trình độ trung cấp 2,9%, công nhân bậc cao 19,3%.
              Năm học 2004-2005 nhà trường tuyển thêm 11 người có trình độ đại học chính qui về làm công tác giảng dạy ở các khoa; tạo điều kiện cho 18 người theo học các lớp cao học, đến nay đã có 8 đồng chí tốt nghiệp trình độ cao học nâng tổng số thạc sĩ của trường lên 9 người, 22 người học đại học; 100% giáo viên của trường đã qua nghiệp vụ sư phạm.
Đầu tư xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị dạy nghề:
            Tuy việc ngân sách cấp cho đầu tư XDCB còn chậm, nhưng nhà trường đã chủ động huy động vốn tự có để đảm bảo xây dựng các công trình như  nâng cấp sân bãi tập nghề lái xe ô tô, trạm bơm + bể lọc nước và cải tạo đường cấp nước sạch, mở rộng xưởng cơ khí, xưởng hàn, hoàn thiện sân ten nít, cải tạo bếp ăn học sinh, xây dựng xưởng đội sản xuất, xưởng máy xúc gạt, ga ra xe đạp xe máy khu A, khu B, cải tạo sân và sảnh tầng 2 nhà 2 tầng, cải tạo nhà ở học sinh B1, ký túc xá A1, A2, A3 và A4, mở rộng đường qua đường sắt, cải tạo hồ nhà khách, cải tạo các nền xưởng, xây dựng nhà tắm ngoài trời A6, xây dựng biển tên trường, xây nhà ở 3 tầng Ao, thi công móng nhà công nghệ cao, xây kè, mương rãnh thoát nước, thi công sân tập lái xe ô tô Hạ Long …, với tổng giá trị trên 2 tỷ đồng.
- Về trang thiết bị, năm học vừa qua chúng ta đã dành trên 5 tỷ đồng trong đó vốn ngân sách là 1,1 tỷ đồng để mua sắm các trang thiết bị phục vụ cho công tác đào tạo, cụ thể như : Nghề điện: xây dựng hoàn chỉnh 2 xưởng: xưởng thí nghiệm đo lường điện và xưởng thực hành PLC trị giá 350 triệu đồng. Nghề sửa chữa ô tô: bổ sung 13 động cơ xe tư bản và các thiết bị kèm theo để lắp lên giá nổ máy cho học sinh thực tập trị giá 80 triệu đồng, và bổ sung 8 tổng thành xe Zin 130; 2 tổng thành Gát 53 và 5 tổng thành U oát. Nghề hàn: bổ sung 6 máy hàn MAG, TIG và một số thiết bị khác trị giá: 248 triệu đồng. Nghề Tiện: Mua bổ sung 7 máy tiện, phay trị giá 400 triệu đồng. Nghề Cơ giới: Mua bổ sung 1 xe xúc, 1 máy nâng trị giá 470 triệu đồng. Nghề Lái xe ôtô: Đã mua bổ sung 9 xe MITSUBISHI, 1 xe KIA tải 1,25tấn, 1 xe ca 46 chỗ, 1 xe ISUZU 8 chỗ ngồi, 4 xe KIA 4 chỗ, 1 xe Uóat đã qua sử dụng, trị giá: 4,6 tỷ đồng. Ngoài ra còn cải hoán thay động cơ dầu cho 8 xe Zin 130, 2 xe Gát 53 và 5 xe Uóat, trị giá 700 triệu đồng. Thiết bị văn phòng và phòng học lý thuyết mua tổng giá trị là: 600 triệu đồng .v.v.
            Công tác quản lý, giáo dục, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho học sinh học nghề luôn là yếu tố quan trọng tác động tích cực đến chất lượng đào tạo, do vậy ngay từ đầu khoá, đồng thời với các hoạt động chăm lo giữ gìn, củng cố nơi ăn, chốn ở, giáo dục thể chất, vui chơi, giải trí, cảnh quan môi trường, các hoạt động tập thể lành mạnh, bổ ích...nhà trường còn tăng cường công tác chủ nhiệm, xây dựng lực lượng tự quản, phối kết hợp với gia đình, địa phương, học tập chính trị, phổ biến các qui định, qui chế, nội qui, kỷ luật, chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước, nhà trường có liên quan đến học sinh.
Về tổ chức: Trong năm nhà trường đã bổ nhiệm lại 2 trưởng, phó phòng khoa, sắp xếp, tổ chức lại và thành lập mới 4 phòng, khoa, đơn vị. Giải quyết chế độ hưu trí và tinh giản biên chế theo Nghị quyết 16/NQ-CP của Chính phủ 6 người.
Về lao động, Tiền lương và thu nhập: Lao động bình quân trong năm 240 người (trong đó khối đào tạo, giáo dục, chuyên môn, nghiệp vụ hưởng lương ngân sách 139 người trong tổng số hưởng lương đào tạo 165 người, hưởng lương xây lắp 75 người. Khối dịch vụ  28 người thì tự lo lương 22 người, hưởng lương ngân sách 1 người, 5 người nhà trường trả lương).
Tiền lương bình quân toàn trường : 2.242.574 đồng/người/ tháng; tăng 24,7% so với năm 2004.( Bộ phận đào tạo : 2.580.848 đồng/người/tháng; tăng 32,96% so với năm 2004. Bộ phận sản xuất xây lắp: 1.577.642đồng/người/tháng; tăng 35,5% so với năm 2004 ).
Thành tích đạt được năm 2005: được Bộ công nghiệp thưởng cờ thi đua, các Bộ, Tỉnh, Ngành thưởng 14 bằng khen và 2 giấy khen cho các tập thể, cá nhân. Bộ Công nghiệp quyết định công nhận 9 giáo viên giỏi cấp Bộ. Có 67 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp trường tăng 8,2% so với chỉ tiêu. Trường có 21 giao viên tham gia cuộc thi GVG cấp Tỉnh, cả 21 giáo viên đều đạt giáo viên giỏi, trong đó có 10 giáo viên giải nhất, 5 giáo viên đạt giải nhì và 5 giải ba và nhà trường đoạt giải nhất toàn đoàn.
            Cuộc thi mô hình học cụ tự làm tỉnh Quảng Ninh có 11 mô hình, thiết bị dự thi, kết quả có 3 thiết bị đạt loại A1, 7 thiết bị đạt loại A và 1 thiết bị đạt loại B. Trong cuộc thi mô hình học cụ tự làm toàn quốc tại Đồng Nai Tỉnh Quảng Ninh đã chọn 6/11 mô hình của trường ta dự thi, kết quả trong 6 mô hình của chúng ta tham gia có 3 thiết bị đạt giải nhì, 2 thiết bị đạt giải 3 và 1 thiết bị đạt giải khuyến khích, như vậy chúng ta đã góp phần quyết định để Tỉnh Quảng Ninh đạt giải ba toàn đoàn.  Nhà trường đã xét công nhận 4 tập thể lao động tiên tiến, 9 tập thể lao động tiên tiến xuất sắc, đề nghị 3 CSTĐ ngành công nghiệp, 19 CSTĐ cấp trường, 109 lao động tiên tiến. Trong năm nhà trường đã thưởng cho các hoạt động thi đua tổng số tiền là  808.071.149 đồng
Những cờ thưởng trên của các cấp các ngành và Chính phủ cùng với quyết định thành lập Trường Trung học Công nghiệp và xây dựng được ban hành là kết quả của sự đoàn kết thống nhất từ lãnh đạo đến công nhân trong nhà trường, là sự phấn đấu không mệt mỏi của CBGV-CNV toàn trường, chấp nhận thu nhập hạn chế để xây dựng cơ sở vật chất, không ngừng đưa nhà trường ngày một khang trang, hiện đại, đáp ứng được yêu cầu về đào tạo nguôn nhân lực mới trong giai đoạn hội nhập.
 VII- Giai đoạn 2006-2010:
 Trong Báo cáo chính trị trình tại Đại hội X của Đảng đã nhận định “Năm năm qua, bên cạnh những thuận lợi cơ bản do tiến trình đổi mới tạo ra,  nước ta cũng gặp không ít khó khăn, thách thức do những yếu kém vốn có của nền kinh tế trình độ thấp; thiên tai, dịch bệnh xảy ra ở nhiều nơi; tình hình thế giới và khu vực diễn biến hết sức phức tạp, nhất là sau sự kiện ngày 11/9/2001 ở Mỹ; kinh tế thế giới và khu vực đan xen những biểu hiện suy thoái, phục hồi và phát triển, hoạt động cạnh tranh và chủ nghĩa bảo hộ của một số nước tác động không nhỏ đến tình hình nước ta...”
Trong mục tiêu, phương hướng giai đoạn 2006 – 2010 Đảng đã chỉ rõ: “Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đổi mới cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, phương pháp giáo dục theo hướng "chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa", nâng cao chất lượng dạy và học.
            Chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mở - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời, đào tạo liên tục, thực hiện sự liên thông giữa các bậc học, một số ngành học; xây dựng và phát triển hệ thống học tập cho mọi người và những hình thức học tập, thực hành linh hoạt mềm dẻo hơn, đáp ứng nhu cầu học tập thường xuyên; tạo ra nhiều khả năng, cơ hội khác nhau cho người học, bảo đảm sự công bằng xã hội trong giáo dục, gắn với phát triển nghề nghiệp của người dân... . Phát triển hệ thống hướng nghiệp và dạy nghề, nhất là các nghề cho nông dân trong lĩnh vực nông nghiệp; đa dạng hóa các loại hình dạy nghề, phát triển nhanh đào tạo nghề dài hạn theo hướng hiện đại.
....
Thực hiện xã hội hóa giáo dục. Huy động nguồn vật chất và trí tuệ của xã hội tham gia chăm lo sự nghiệp giáo dục. Phối hợp chặt chẽ giữa ngành giáo dục với các ban, ngành, các tổ chức chính trị - xã hội, xã hội - nghề nghiệp... để mở mang giáo dục, tạo điều kiện học tập cho mọi thành viên trong xã hội. Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động giáo dục.
Đổi mới cơ chế quản lý giáo dục. Phân cấp, tạo động lực và sự chủ động của các cơ sở, các chủ thể tiến hành giáo dục. Nhà nước tăng đầu tư tập trung cho các mục tiêu ưu tiên, các chương trình quốc gia phát triển giáo dục, hỗ trợ các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo; thực hiện miễn giảm việc đóng góp và cấp học bổng cho học sinh nghèo, các đối tượng chính sách, học sinh giỏi.
Tăng cường hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo. Tiếp cận chuẩn mực giáo dục tiên tiến của thế giới phù hợp với yêu cầu phát triển của Việt Nam; tham gia đào tạo nhân lực khu vực và thế giới. Có cơ chế quản lý phù hợp đối với các trường do nước ngoài đầu tư hoặc liên kết đào tạo.”...
             Với tinh thần trên, nghị quyết Đại hội Đảng bộ nhà trường lần thứ XII đã xác định mục tiêu thời gian tới của nhà trường là xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường lực lượng giáo viên có trình độ chuyên môn nghiệp vụ cao, nâng cao chất lượng đào tạo ... phát triển nhà trường về mọi mặt để thành lập Trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng trong thời gian tới.
Để thực hiện được mục tiêu trên nhà trường gặp những khó khăn trở ngại sau:
- Nền sản xuất công nghiệp phát triển rất nhanh chóng cả về quy mô và trình độ khoa học đòi hỏi nhà trường phải bổ sung và đổi mới trang thiết bị đào tạo với khối lượng lớn, nhưng kinh phí nhà nước cấp cho mua sắm trang thiết bị đào tạo còn thấp xa so với nhu cầu. Để đáp ứng cho đào tạo, nhà trường phải sử dụng một lượng lớn nguồn vốn tự có cho mua sắm thiết bị đào tạo.
- Số lượng học sinh tăng nhanh, nhu cầu về xây dựng cơ bản như phòng học, nhà xưởng và nhà ở đều tăng. Trong việc thực hiện dự án đầu tư cải tạo nâng cấp trường chúng ta phải đầu tư một lượng lớn kinh phí đối ứng bằng nguồn vốn tự có, đồng thời phải xây dựng thêm một số hạng mục khác ngoài dự án bằng vốn tự có. Vì vậy các khoản chi cho phúc lợi và đời sống còn hạn chế, giá cả hàng hóa, xăng dầu tăng liên tục đã ảnh hưởng lớn đến nguồn vốn XDCB và đời sống của CBGV-CNV.
- Nhiều giáo viên tuyển mới, chưa tích luỹ được kiến thức và kinh nghiệm giảng dạy. Một số cán bộ giáo viên có kinh nghiệm đi học cao học, điều đó cũng tạo khó khăn không nhỏ trong việc điều hành công việc và bố trí giáo viên đảm bảo tiến độ giảng dạy.
- Nhà nước có quyết định tăng lương tối thiểu, dẫn đến mỗi tháng nhà trường phải bù hơn 100 triệu đồng.
               Tuy có nhiều khó khăn nhưng với truyền thống đoàn kết thống nhất, nhà trường luôn vượt qua và duy trì được tốc độ phát triển cả về cơ sở vật chất và chất lượng đào tạo; uy tín của nhà trường không ngừng tăng; Nhà trường đã tạo được sự tin tưởng về chất lượng của học sinh tốt nghiệp ra trường đổi với các cơ sở sản xuất và các doanh nghiệp trong khu vực cũng như trong ngành.
Tháng 6 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo ký quyết định thành lập Trường Cao đẳng Công nghiệp và Xây dựng trên cơ sở Trường TH Công nghiệp và Xây dựng (Quyết định số: 2919/QĐ-BGD&ĐT Ngày 08/6/2006).

 

Thứ trưởng Bùi Xuân Khu trao Quyết định thành lậpTrường CĐ Công nghiệp và Xây dựng cho Hiệu trưởng Lương Văn Tiến

 

               Năm 2006: Hệ Trung học khoá 2 tuyển được 505/450 học sinh. Hệ dạy nghề khoá 33: tuyển được 1414/1200 h/s.
            - Riêng hệ Cao đẳng, nhà trường được ký quyết định lên Cao đẳng vào tháng 6/2006, trong khi đó các trường Cao đẳng khác đã ổn định công tác đăng ký thi tuyển; do vậy việc tuyển sinh hệ Cao đẳng gặp nhiều khó khăn, chúng ta chỉ tuyển được 125/150 sinh viên.
* Hệ ngắn hạn: Tuyển 3362 học sinh – vượt chỉ tiêu 20 %
            - Công tác đào tạo lại và thi nâng bậc cho công nhân tại các doanh nghiệp được 207 người - đạt chỉ tiêu đề ra.
* Liên kết đào tạo Đại học, Cao đẳng tại chức:
            - Duy trì liên kết với trường đại học Bách khoa Hà Nội đào tạo tại chức cho 163 sinh viên đại học và 85 sinh viên hệ cao đẳng chính qui
♦ Chất lượng đào tạo năm học 2005 - 2006:
      Thực hiện nghị quyết của Đảng bộ nhà trường về việc nâng cao chất lượng đào tạo thật sự đồng thời hưởng ứng cuộc vận động “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích” của Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động, công tác Đào tạo – Giáo dục trong nhà trường có sự chuyển biến rõ rệt, kết quả học tập được đánh giá chặt chẽ hơn, các cuộc thi nghiêm túc hơn do đó chất lượng đào tạo thể hiện giảm đi so với năm học trước, cụ thể:
+ Hệ dạy nghề:
- Loại giỏi : đạt 15,5% (so năm học trước giảm 1,9%).
- Loại khá : đạt 29,5% (so năm học trước giảm 1,2%).
- Loại TB khá và TB: 54,2% (so năm học trước tăng 2,8%).
- Loại kém: 0,8% (so năm học trước tăng 0,3%).
+ Hệ trung học:
- Loại giỏi đạt : 2,4% ;
- Loại khá đạt : 27,1% ;
- Loại trung bình: 70,5%.
- Loại kém: không.
• Về giáo dục : 
+ Hệ dạy nghề:
- Đạo đức loại A : 75%, so chỉ tiêu = 100%
    (so năm  học trước giảm 2%)
- Đạo đức loại B : 15,9%, giảm so chỉ tiêu 1,1% 
   (so năm học trước giảm 2,8%)
- Đạo đức loại C: 8,8%, tăng so chỉ tiêu 2,8%
  (so năm học trước tăng 4,6%)
- Đạo đức loại D: 0,3%, giảm so chỉ tiêu 1,7%
  (so năm học trước tăng 0,2%)
 + Hệ trung học:
- Đạo đức loại A:  75%;
- Đạo đức loại B : 18,8%;
- Đạo đức loại C:    6,2%        
• Kết quả tốt nghiệp:
a. Hệ học nghề dài hạn:
- Tổng số học sinh dự thi: 1200 h/s,
Đạt tốt nghiệp: 1157 học sinh = 96,4 %, giảm 2,1% so với chỉ tiêu.
b. Hệ ngắn hạn :
Tổng số học sinh tốt nghiệp:  2802 học sinh
(tăng  12 % so năm 2005)
Về Năng lực, chất lượng giáo viên:
            - Đội ngũ giáo viên đã được tăng cường về số lượng và chất lượng, nhà trường không ngừng chăm lo bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ cho giáo viên, có chính sách ưu đãi hợp lý nên đã động viên khuyến khích được đội ngũ giáo viên phát huy sáng kiến và ra sức học tập nâng cao trình độ, 65 GVG cấp trường; 22 giáo viên đạt danh hiệu giáo viên giỏi cấp; trong hội thi giáo viên giỏi cấp quốc gia trường cử 3 GV tham dự có 2 giáo viên đạt giải ba hệ dạy nghề (Thầy Lê Đình Tịnh + thầy Đỗ Minh Chiến) và 1 giáo viên đạt giải nhất hệ trung học chuyên nghiệp (cô Đặng Thị Tuyết Mai).
• Về xây dựng cơ bản:
- Ngân sách nhà nước cấp cho XDCB: 5 tỷ đồng. Nhà trường xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn tự bổ sung  giá trị:  hơn 5 tỷ đồng, gồm các công trình:
            - Nhà ở giáo viên A0                          1 tỷ 200 triệu đồng
            - Nhà học Công nghệ cao                  1 tỷ 204 triệu đồng
            - Sân bãi tập lái xe Hạ Long              2 tỷ đồng
            - Nhà ký túc xá A7                                      50 triệu đồng
            - Hội trường đa năng                         1 tỷ 300 triệu đồng
            - Cải tạo mái nhà học H1                            25 triệu đồng
Về mua sắm thiết bị:
            - Thiết bị các nghề Cơ khí                             62 triệu
            - Thiết bị các nghề Khai thác                      219 triệu
            - Thiết bị Phòng thí nghiệm                          78 triệu
            - Thiết bị âm thanh, máy phô tô các loại    113 triệu
            - Máy vi tính                                               437 triệu
            - Ôtô                                                          914 triệu
            - Bảng và bàn ghế học sinh                       148 triệu
            - Thiết bị điện, thiết bị XD… các loại           141 triệu
            Tổng giá trị mua sắm thiết bị đào tạo là   2.108 triệu, trong đó có 800 triệu tiền mục tiêu, còn lại bằng vốn tự có và tiền tiết kiệm từ ngân sách chi thường xuyên.
Về cải tiến nội dung, chương trình, áp dụng phương pháp dạy học mới:
- Biên soạn mục tiêu chương trình mở ngành và chương trình chi tiết của 3 ngành Trung cấp và 3 ngành Cao đẳng cho năm học 2006-2007
            - Làm hồ sơ mở thêm 5 ngành Cao đẳng cho năm học 2007- 2008.
            - Hoàn thành việc biên soạn chương trình khung cho nghề vận hành máy xúc, theo đề án của Bộ giao.
- Biên soạn 13 giáo trình cho các ngành  và chuyên ngành dùng cho hệ trung học, Cao đẳng và dạy nghề.
 Trong năm nhà trường đã bổ nhiệm và bổ nhiệm lại  30 trưởng, phó phòng khoa, sắp xếp lại tổ chức, thành lập thêm 2 khoa là khoa Kỹ thuật Mỏ và khoa Kinh tế – Tin học . Tuyển dụng 38 giáo viên, trong đó có 26 giáo viên có trình độ đai học 12 giáo viên là thợ bậc cao (chủ yếu là giáo viên lái xe), giải quyết chế độ hưu trí cho 02 người.
           Lao động bình quân năm 2006 là 260 người (trong đó khối đào tạo, giáo dục, chuyên môn, nghiệp vụ hưởng lương ngân sách 139 người (trong tổng số hưởng lương đào tạo 180 người, hưởng lương xây lắp 80 người. Khối dịch vụ , tự lo lương là 30 người).
           Năm 2006 tổng chi lương và các khoản có tính chất lương của n hà trường là: 7.487 triệu đồng (ngân sách cấp là: 2.903 triệu đồng)
+Tiền lương bình quân toàn trường : 2.602.000đồng/người/ tháng; tăng 12,89% so với năm 2005.(Bộ phận đào tạo : 2.748.000 đồng/người/tháng; bộ phận sản xuất xây lắp: 1.750.000 đồng/người/tháng)
           Năm 2006 làm tốt công tác an toàn lao động, không có một trường hợp tai nạn lao động nào xẩy ra dù chỉ là nhỏ nhẹ.
Tổng doanh thu: 24 683 938 000đ (Ngân sách cấp: 9 033 000 000 đ; Doanh thu ngoài ngân sách: 15 650 983 000đ).
             Năm 2006 Bộ công nghiệp và Bộ Giáo dục - Đào tạo công nhận danh hiệu Trường tiên tiến xuất sắc; UBND Tỉnh Quảng Ninh tặng cờ tiên tiến xuất sắc về công tác dạy nghề cho nhà trường, đồng thời các cấp các ngành thưởng 17 bằng khen và 6 giấy khen cho các tập thể, cá nhân trong trường có nhiều thành tích trong công tác, lao động. Hội đồng sư phạm nhà trường công nhận danh hiệu giáo viên giỏi cấp trường cho 65 đồng chí; Bộ Công nghiệp quyết định công nhận 9 giáo viên giỏi cấp Bộ, Tỉnh Quảng Ninh công nhận 22 giáo viên của giỏi cấp Tỉnh; đ/c Đặng Thị Tuyết Mai GV Khoa Cơ khí đạt giải nhất GVG hệ trung học; đ/c Đỗ Minh Chiến (Khoa Cơ khí) và đ/c Lê Đình Tịnh (GV TrT đào tạo) đều đạt giải ba GVG hệ dạy nghề.
         12 tập thể lao động tiên tiến, 3 CSTĐ cấp Bộ, 15 CSTĐ cấp trường, 169 lao động tiên tiến.
          Trong năm học có 48 em đạt danh hiệu “Học sinh giỏi cấp trường”. 15/15 HS đạt giỏi cấp tỉnh (giải nhất: 09 em, giải nhì: 06 em). Đoàn học sinh nhà trường đạt giải nhất đồng đội. Cuộc thi học sinh giỏi cấp quốc gia: cử  05 em tham gia, kết quả:  02 em đạt giải nhì và 03  em đạt giải khuyến khích.
           12/12 chi bộ trong nhà trường đều được Thị ủy Uông Bí công nhận là chi bộ trong sạch vững mạnh, trong đó có 10 chi bộ được xếp loại chi bộ trong sạch vững mạnh xuất sắc.
           Đảng bộ nhà trường được công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh xuất sắc.
Công đoàn nhà trường và Đoàn Thanh niên nhà trường được công nhận Vững mạnh xuất sắc, Hội Cựu chiến binh nhà trường được UBND Thị xã Uông Bí tặng giấy khen.
              Việt Nam bắt đầu chủ trương hội nhập kinh tế từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), chủ trương này càng được đẩy mạnh. Hội nhập kinh tế của Việt Nam diễn ra càng ngày càng nhanh và càng sâu. Từ chỗ chỉ hợp tác thương mại thông thường đã tiến tới hợp tác kinh tế toàn diện, từ chỗ hợp tác song phương đã tiến tới hợp tác kinh tế đa phương. Cho đến giữa năm 2007, Việt Nam đã có quan hệ kinh tế với 224 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, đã ký hơn 350 hiệp định hợp tác phát triển song phương, 87 hiệp định thương mại, 51 hiệp định thúc đẩy và bảo hộ đầu tư, 40 hiệp định tránh đánh thuế hai lần, 81 thoả thuận về đối xử tối huệ quốc. Đỉnh cao về hợp tác kinh tế song phương là việc ký hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam - Nhật Bản, còn về hợp tác kinh tế đa phương là việc ký hiệp định gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới với tiêu chuẩn “WTO Plus”, nghĩa là chấp nhận các đòi hỏi về tự do hóa thương mại (hàng hóa và dịch vụ), đầu tư, mua sắm của chính phủ cao hơn so với mức độ quy định trong các văn kiện có hiệu lực đang áp dụng của WTO.
           Năm 2007 là năm ngành giáo dục triển khai mạnh mẽ cuộc vận động “Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”; “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không phù hợp với yêu cầu xã hội”... Đảng bộ nhà trường đã chỉ đạo Ban giám hiệu nhà trường tổ chức học tập, nghiên cứu và lập các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo, ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực trong thi cử...; Lãnh đạo nhà trường ngay từ năm 2004 đã nhận thức rõ giá trị của chất lượng đào tạo và hết sức quan tâm việc tạo dựng uy tín thật sự cho nhà trường, đặc biệt uy tín đó phải là từ học sinh ra trường đem lại mới được bền lâu và mới có sức thuyết phục xã hội, học sinh ra trường được các doanh nghiệp ưa chuộng thì nhà trường mới được chấp nhận, vì vậy chất lượng đào tạo là mục tiêu chiến lược của nhà trường và các cuộc vận động trên phù hợp với mục tiêu mà lãnh đạo nhà trường đã nhắm từ trước và đã đang chỉ đạo thực hiện.
Công tác tuyển sinh năm 2007 được thực hiện theo đúng quy chế và đạt kết quả như sau:
       - Hệ Cao đẳng : tuyển được 559/550 chỉ tiêu giao =101,6%.
       - Hệ TC CN Tuyển  305/550 chỉ tiêu giao.(không đạt chỉ tiêu)
       - Hệ Cao đẳng: 563/450 chỉ tiêu
       - Hệ Trung cấp nghề:  585/550 chỉ tiêu.
       - Hệ ngắn hạn: 3000 Học sinh.
       - Liên kết đào tạo tại chức: Duy trì liên kết với trường đại học Bách khoa Hà Nội đào tạo tại chức cho 278 sinh viên đại học.
            - Tổ chức 02 lớp trung cấp (Lớp trung cấp xây dựng tại chức ở Cẩm Phả có 50 học viên và trung cấp sửa chữa ô tô tại chức ở Núi Béo có 27học viên).
Chất lượng đào tạo năm học 2006 – 2007 luôn được nhà trường coi trọng hàng đầu và được coi là chỉ tiêu sống còn trong sự tồn tại và phát triển của nhà trường. Để nâng cao chất lượng đào tạo năm qua nhà trường đã thực hiện các biện pháp:
- Khuyến khích CBGV đi học nâng cao trình độ.    
- Tổ chức hội thảo, đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ giảng. Nhà trường luôn khuyến khích giáo viên phát huy sáng kiến, áp dụng các phương tiện dạy học hiện đại và các phương pháp dạy học tiên tiến.
            - Tăng cường cơ sở vật chất, đảm bảo có đủ phòng học, nhà xưởng và thiết bị dạy học theo hướng hiện đại, đáp ứng trình độ kỹ thuật công nghệ của thực tế sản xuất.
                - Đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, gắn nội dung đào tạo với sản xuất.
- Tăng cường công tác quản lý chất lượng đào tạo bằng cách cử cán bộ chuyên trách giám sát và kiểm tra trực tiếp chất lượng đào tạo từng môn, từng học phần.
- Đối với hệ đào tạo Cao đẳng và trung cấp, đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao chất lượng đào tạo môn Tin học và coi đây là chiếc chìa khoá để nâng cao chất lượng đào tạo, vì Tin học là công cụ chính để các em hành nghề sau khi ra trường.
                - Xử lý kịp thời những học sinh bỏ học, lười học và vi phạm nội quy thi, kiểm tra. Thực hiện tốt cuộc vận động: “Nói không với đào tạo không đạt chuẩn, không đáp ứng được yêu cầu xã hội” và “Nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo”...
            - Tổ chức phụ đạo và thi lại cho những học sinh không đạt điểm các môn học.
            - Trước khi thi tốt nghiệp 02 tháng, tổ chức thi kiểm tra chất lượng, phụ đạo những học sinh yếu, tổ chức thi và chấm thi tốt nghiệp nghiêm túc, đúng quy chế, đảm bảo 100% học sinh tốt nghiệp ra trường đều đạt chất lượng theo yêu cầu mục tiêu đề ra.
            - Những học sinh chưa đạt tốt nghiệp, tiếp tục phụ đạo và thi lại sau 02 tháng, vì vậy năm học qua không có học sinh tốt nghiệp ra trường mà không đạt chất lượng. Kết quả cụ thể như sau:
• Về học tập:
          + Giỏi: 7,61% ;
          + Khá: 34,73 %; 
          +Trung bình khá + Trung bình: 56,01%;
          + Yếu : 1,65 %.
Học sinh tốt nghiệp ra trường: 98,68%
(Trong đó:  đạt loại giỏi:10,93%; Khá: 24,85%)
Việc nghiên cứu khoa học của giáo viên, hiên tại nhà trường coi việc biên soạn giáo trình nội bộ, nghiên cứu thiết kế tự làm mô hình, thiết bị dạy học và áp dụng các phương pháp dạy học mới là một việc nghiên cứu khoa học.
Đã nghiên cứu và làm được một số hệ thống báo lỗi cho tập lái xe ôtô để học sinh làm quen với sân sát hạch.
           Trong phong trào nghiên cứu khoa học, sáng kiến tiết kiệm: Nhà trường chú trọng đến những đề tài có công nghệ mới phù hợp với thực tế sản xuất thay thế những nội dung đã lạc hậu vào chương trình đào tạo và biện pháp khai thác triệt để năng lực phương tiện, thiết bị kết hợp  thực tập cơ bản với thực tập sản xuất làm ra sản phẩm, chẳng những học sinh được làm quen với thực tế sản xuất tại hiện trường mà còn mang lại hiệu quả kinh tế cho nhà trường.
           Tuy vậy, phong trào nghiên cứu khoa học còn rất khiêm tốn, chưa ở mức cao về quy mô và hàm lượng trí tuệ khoa học. Nhà truờng luôn gắn việc rèn luyện kỹ năng thực hành của học sinh với sản xuất tạo ra sản phẩm. Chính vì vậy, mỗi năm sản phẩm thực tập của học sinh đã bổ sung cơ sở vật chất cho nhà trường hàng trăm triệu đồng.
              Về cải tiến nội dung, chương trình, áp dụng phương pháp dạy học mới: nhà trường đã xây dựng chương trình cho 03 chuyên ngành Trung học bổ sung và 05 ngành Cao đẳng. Chuyển đổi 16 chương trình dạy nghề dài hạn thành chương trình đào tạo Trung cấp nghề.
Nhà trường cũng khuyến khích giáo viên biên soạn giáo trình nội bộ phù hợp với đề cương chi tiết môn học đã được duyệt. Tăng cường nghiên cứu phương pháp dạy học mới, tích cực áp dụng những phương pháp đào tạo tiên tiến trên thế giới, nghiên cứu làm nhiều mô hình học cụ, thiết bị giảng dạy để không ngừng nâng cao chất lượng đào tạo.
        Kết quả trong năm học, tập thể giáo viên nhà trường đã biên soạn được 15 giáo trình nội bộ và tự làm 25 mô hình, thiết bị dạy học. Ngoài ra Nhà trường đang khuyến khích giáo viên biên soạn ngân hàng đề thi trắc nghiệm cho các môn học.
Nhà trường thực hiện nghiêm túc các qui chế thi và kiểm tra, xét lên lớp và tốt nghiệp. Tất cả các học sinh yếu đều phải được phụ đạo đạt yêu cầu mới được tốt nghiệp ra trường. Bên cạnh việc tổ chức nơi ăn chốn ở chu đáo, điện nước đầy đủ, đảm bảo trật tự an ninh, nhà trường còn tổ chức các phong trào thể thao, văn hóa, văn nghệ như tổ chức các giải bóng đá, bóng chuyền, cầu lông, hội thi tiếng hát HSSV, hội thi học sinh thanh lịch... nhằm hướng cho học sinh vào các hoạt động lành mạnh.
        Các chế độ học bổng, chế độ đối với học sinh diện chính sách đều được thực hiện theo đúng quy định của nhà nước.
Đối với cán bộ, giáo viên, công nhân viên, nhà trường thực hiện đúng chính sách về nâng ngạch, nâng bậc lương, có chế độ ưu đãi, tiền thưởng hợp lý nhằm thu hút nhân tài và khuyến khích sự sáng tạo của cán bộ giáo viên.
Nhà trường có qui chế cụ thể trong mọi mặt hoạt động cũng như trong việc chi tiêu nội bộ.
Thực hiện tốt quy chế dân chủ, trong năm không có các vụ việc khiếu nại, tố cáo phải giải quyết.
-Trong năm nhà trường đã khởi công nhà làm việc 5 tầng, chưa đầy 1 năm đã khánh thành đưa vào sử dụng đúng  ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11/2007; Đây là công trình lớn, là món quà có ý nghĩa thiết thực, với tiến độ nhanh nhất , chất lượng tốt nhất  và rất đẹp về kiến trúc để chào mừng kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam  20-11 năm 2007; rải áp phan sân tập lái, sân trước cửa hội trường hơn 10000m2 xây lại cổng trường, nhà để xe ôtô, xe đạp, xe máy...và đang xây nhà ở A7, tầng 3 nhà ăn 550 chỗ để làm thư viện ... với giá trị gần 5 tỷ đồng  bằng vốn tự có và vốn huy động của cán bộ giáo viên.
Để bổ sung thiết bị cho đào tạo nhà trường mua thêm máy tính: 90 bộ,  01 máy CNC,  06 máy ảnh kỹ thuật số cho các khoa, 35 bộ bàn ghế cho giáo viên và h/s 380 bộ , ghế xuân hoà 250 cái, bảng chống loá 16 cái, phông chiếu 27 cái, 35 xe Ôtô cho tập lái ( trong đó: 23 xe  mới), .v.v.; Tổng giá trị mua sắm năm 2007 là trên 5 tỉ đồng.
         Kết quả năm 2007 nhà trường đạt doanh thu:18 tỷ 256 triệu đồng
Trong đó:
- Thu học phí các nghề đào tạo:               5 tỷ 056 triệu đồng
                  Thu đào tạo Lái xe:                8 tỷ 523 triệu đồng
                  Thu đào tạo lái xe mô tô        1 tỷ 129 triệu đồng
                  Thu liên kết đào tạo và nâng bậc: 1 tỷ 770 triệu đồng
                  Đào tạo theo đơn đặt hàng (mộc).       182 triệu đồng
- Thu tiền nhà ký túc xá, vệ sinh môi trường, tiền điện … 758 triệu đồng
- Thu Thí nghiệp vật liệu xây dựng:                                    178 triệu đồng
             Trong năm nhà trường đã bổ nhiệm mới 11 cán bộ  sắp xếp lại tổ chức: giải thể phòng Quản trị Vật tư để thành lập phòng Xây dựng cơ bản; bộ phận quản trị và dịch vụ đời sống nhập vào phòng Tổ chức Hành chính; Thành lập Trung tâm đào tạo và đổi tên Trung tâm đào tạo hệ mở rộng thành Trung tâm đào tạo Lái xe. Tuyển dụng 38 giáo viên, trong đó có 26 giáo viên có trình độ đai học, 01 cao đẳng và 11 công nhân lái xe về làm trợ giáo, giải quyết chế độ hưu trí cho 02 người. Lao động bình quân trong năm 2007 là  291 người.  (Trong đó khối đào tạo, giáo dục, chuyên môn, nghiệp vụ hưởng lương ngân sách 139 người trong tổng số hưởng lương đào tạo 210 người, hưởng lương xây lắp 51 người. Khối dịch vụ , tự lo lương là 30 người).
Tổng chi lương và các khoản có tính chất lương của nhà trường là: 8 tỷ 928 triệu đồng (ngân sách cấp là:  3 tỷ 715  triệu đồng)
+Tiền lương bình quân toàn trường : 2.786.339 đồng/người/tháng; tăng 7,37% so với năm 2006 (bộ phận đào tạo : 3.542.490 đồng/người/tháng; sản xuất xây lắp : 2.261.727 đồng/người/tháng).
          Năm 2007 chúng ta đã làm tốt công tác an toàn lao động, không có một trường hợp tai nạn lao động nào xẩy ra dù chỉ là nhỏ nhẹ.
         Trong năm giá cả các mặt hàng cho xây dựng cơ bản, nguyên nhiên vật liệu, vật tư cho đào tạo và các nhu yếu phẩm trong đời sống xã hội đều không ngừng tăng giá, nó đã ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của cán bộ, giáo viên , công nhân viên và học sinh sinh viên. Song với sự cố gắng của lãnh đạo nhà trường và với quyết tâm lao động sản xuất công tác, kết hợp với kiên quyết thực hành tiết kiệm vì vậy mấy năm vừa qua chúng ta vẫn giữ được mức tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước  nhà trường thường xuyên ưu đãi thoả đáng những đối tượng có nhiều thành tích trong lao động công tác, có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, thu nhập  bình quân tăng hơn năm trước 7,4%. Nơi ăn, chốn ở, điện, nước phục vụ cho cán bộ giáo viên và học sinh được quan tâm xây dựng và tu sửa, tạo điều kiện cho CBGV và học sinh có đủ điều kiện sinh hoạt thoải mái, vệ sinh sạch sẽ... các hoạt động y tế, dịch vụ  đã làm tốt công tác chăm lo sức khoẻ ban đầu,  khám chữa bệnh cho CNVC, học sinh sinh viên và phòng chống dịch bệnh tốt. Các bếp ăn tập thể đã thu hút được người ăn và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, năm 2007 vừa qua không có trường hợp nào bị ngộ độc do ăn uống.
           Trong phong trào thi đua lao động sản xuất, công tác và thực hành tiết kiệm đã có 201/300 BC, GV-CNV đạt danh hiệu Lao động tiên tiến, trong đó có 23 người được suy tôn danh hiệu CSTĐ cấp cơ sở; Năm học 2006 - 2007 nhà trường được Bộ công nghiệp và UBND Tỉnh Quảng công nhận danh hiệu Trường tiên tiến xuất sắc và tặng 17 bằng khen, 3 giấy khen cho tập thể và cán bộ, giáo viên, CNV nhà trường; Bộ Giao thông Vận tải cũng tặng bằng khen cho trường về thành tích xuất sắc trong công tác đào tạo, tổ chức sát hạch lái xe cơ giới đường bộ năm học 2006 - 2007, đồng thời các cấp các ngành thưởng nhiều bằng khen, giấy khen cho các tập thể, cá nhân trong trường có nhiều thành tích trong công tác, lao động. Hội đồng sư phạm nhà trường công nhận danh hiệu GVG cấp trường cho 77 người;
           Năm 2007 Đảng bộ nhà trường thường xuyên chỉ đạo các chi bộ thực hiện tốt công tác Đảng, giữ vững chế độ sinh hoạt theo định kỳ, làm tốt công tác tư tưởng trong đảng cũng như các tổ chức quần chúng, 29 đảng viên được bình bầu là đảng viên xuất sắc; 12/12 chi bộ trong nhà trường đều được Thị ủy Uông Bí công nhận là chi bộ trong sạch vững mạnh, trong đó có 9 chi bộ được xếp loại chi bộ trong sạch vững mạnh xuất sắc và Đảng bộ nhà trường được công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh xuất sắc trong nhiều năm.
Công đoàn nhà trường được Công đoàn Công nghiệp Việt Nam tặng cờ Công đoàn cơ sở xuất sắc trong phong trào thi đua và hoạt động công đoàn năm học 2006 - 2007; Đoàn Thanh niên nhà trường được tặng cờ Vững mạnh xuất sắc, Hội Cựu chiến binh nhà trường được UBND Thị xã Uông Bí tặng giấy khen.
 Năm 2008, tỷ lệ lạm phát ở Việt Nam ước khoảng 22,97 %, cao hơn nhiều mức Quốc hội đề ra là dưới 8,5-9% trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội năm 2008. Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế tính theo đơn vị tiền tệ quốc gia của Việt Nam năm này là 6,18%, thấp hơn mức Quốc hội đề ra là trên 7,5-8%. Những lo ngại về lạm phát tăng tốc nhanh trong năm 2007 và nửa đầu năm 2008 đã khiến Chính phủ quyết định thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ và tài chính cũng như tác động của khủng hoảng tài chính toàn cầu đã khiến kinh tế tăng trưởng chậm hơn dự kiến.
                Bước vào năm 2008 mặc dù các cơ sở đào tạo tăng đột biến trong vài năm qua, song do nhu cầu người học tăng và do uy tín về chất lượng đào tạo của nhà trường trong khu vực ngày càng được khẳng định nên công tác tuyển sinh có nhiều thuận lợi, nhiều học sinh tốt nghiệp ra trường đã có việc làm và thu nhập cao. Số lượng các ngành nghề nhà trường đào tạo khá đa dạng nên học sinh có nhiều cơ hội lựa chọn ngành nghề phù hợp với nguyện vọng bản thân.
        Nhưng trong thời gian này sự tăng nhanh về số lượng các cơ sở đào tạo đã tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt giữa các cơ sở đào tạo trong việc tuyển sinh. Hầu như học sinh sau khi tốt nghiệp THPT chưa có được những thông tin cần thiết để lựa chọn trường để  tiếp tục học lên cũng có ảnh hưởng đến kết quả tuyển sinh của nhà trường.
Kết quả năm 2008: Tổng số tuyển  2.436/2300 HSSV
Trong đó:
- Hệ Cao đẳng tuyển: 1082 SV
- Hệ Trung cấp CN tuyển: 360HS
- Cao đẳng nghề tuyển được: 468HS
- Trung cấp nghề tuyển được: 526HS
Suốt trong năm học nhà trường tiếp tục nâng cao năng lực, trình độ tay nghề cho đội ngũ giáo viên. Tăng cường đầu tư, xây dựng mới hạ tầng cơ sở, nhà xưởng, đầu tư mua sắm trang thiết bị, chỉnh lý mục tiêu chương trình đào tạo, biên soạn giáo trình, tổ chức hội thảo, hội giảng các cấp, tổ chức nghiên cứu khoa học, áp dụng các thành tựu nghiên cứu vào thực tế sản xuất gắn đào tạo với thực tiễn.
         Triển khai áp dụng vận hành hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9001 : 2000 trong Nhà trường nhằm tạo ra những bước đi vững chắc trong công tác tổ chức, quản lý quá trình đào tạo chuẩn bị cho kiểm định chất lượng các trường cao đẳng.
Tăng cường công tác quản lý chất lượng đào tạo bằng cách cử cán bộ chuyên trách giám sát và kiểm tra trực tiếp chất lượng đào tạo từng môn, từng học phần. Đối với hệ đào tạo Cao đẳng và Trung cấp, đặc biệt chú trọng đến việc nâng cao chất lượng đào tạo môn Tin học và coi đây là chiếc chìa khoá để nâng cao chất lượng đào tạo, vì Tin học là công cụ chính để các em hành nghề sau khi ra trường .v.v.
Vì vậy không có học sinh tốt nghiệp ra trường chất lượng kém, chính vì vậy chất lượng đào tạo các hệ trong năm học đã được nâng lên một cách rõ rệt :          
- 96.4% đạt yêu cầu;
- 23,5% đạt khá, giỏi.
Về đạo đức: loại A+B đạt 97,1%; loại D = 0,4
         Trong năm các thầy cô giáo đã biên soạn 18 tài liệu, giáo trình cao đẳng nghề, 4 chương trình CĐ chuyên nghiệp, 19 giáo trình nội bộ, bài giảng đáp ứng yêu cầu đào tạo.
Công tác nghiên cứu khoa học của giáo viên đã được tập trung nhiều vào việc biên soạn giáo trình nội bộ, nghiên cứu thiết kế tự làm mô hình, thiết bị dạy học và áp dụng phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm. Nhiều đề tài cấp trường, cấp bộ đã được triển khai, như viết phần mềm đào tạo, phần thư viện, quản lý HSSV...
Nghiên cứu chế tạo ROBOCON giúp học sinh ngành tự động hoá làm quen với thực tiễn. Nghiên cứu thiêt bị an toàn tia lửa trong khai thác than hầm lò, nghiên cứu thấm nitơ- plasme đề tài cấp bộ.
         Nhà trường luôn gắn việc rèn luyện kỹ năng thực hành của học sinh với sản xuất tạo ra sản phẩm như Nghề Hàn, Xây dựng, Mộc nhôm kính, Cắt gọt kim loại... Chính vì vậy, mỗi năm sản phẩm thực tập của học sinh đã bổ sung cơ sở vật chất cho nhà trường hàng trăm triệu đồng
Duy trì liên kết với trường đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Điện lực đào tạo tại chức cho 559 sinh viên đại học. Đào tạo lái xe ô tô : Tuyển 3.401người, Tổ chức thi sách hạch luôn bảo đảm đạt 90%.
         Nhà trường đã thực hiện tốt chế độ chính sách đối với HSSV là con em gia đình thương binh, gia đình có công với cách mạng, chế độ học bổng... theo đúng quy định của nhà nước.
Thực hiện tốt quy chế dân chủ, công tác thanh tra, kiểm tra được thực hiện theo kế hoạch thường xuyên, đột xuất vì vậy trong năm  nhà trường không có đơn từ khiếu nại, tố cáo.
 Nhược điểm công tác xây dựng qui chế chi tiêu nội bộ chưa khoa học để công tác quản lý nhân sự chưa tốt để những người không tốt lợi dụng qui chế này để vừa được đi học cao học vẫn được hưởng lương, học xong xin đi nơi khác lại không phải bồi hoàn lương trong thời gian đi học như trường hợp của cô Nguyễn Thị Thu Thủy thuộc Khoa Kinh tế – CNTT..
Tổng thu trong năm này đạt 40 tỷ 193 triệu đồng (trong đó: Ngân sách cấp 13 298 triệu đồng và các hoạt động đào tạo, sản xuất, dịch vụ ... nhà trường thu được 26 895 triệu đồng
           Đầu tư xây dựng CSVC, mua sắm trang thiết bị dạy nghề năm 2008: Đã xây dựng xong và đưa vào sử dụng 01 nhà học 05 tầng (H4), 01 ký túc xá 04 tầng (A6), cải tạo nâng cấp Nhà thư viện. Đã khởi công xây dựng nhà học lý thuyết 04 tầng, nhà hội trường 2 tầng bằng vốn tự có của nhà trường và đang khởi công xây dựng nhà học 9 tầng bằng vốn NS nhà nước.
Trang bị 01 máy tiện CNC trị giá gần 700 triệu, thiết bị chẩn đoán động cơ, bổ sung 04 phòng học máy tính với 140 bộ, các máy chiếu đa năng, bàn thực hành KT số, điện khí nén, máy cắt tôn tấm, Bảng thực hành điện ôtô. Mua thêm ôtô: 08 cái( trong đó: 02 xe con, 05 xe tải).
          Trong năm nhà trường đã bổ nhiệm 04 cán bộ, miễn nhiệm cho 01 người và điều chuyển 01 cán bộ; sắp xếp lại tổ chức: bộ phận vệ sinh môi trường và dịch vụ đời sống thuộc Văn phòng HT nhập và bộ phận sửa chữa thuộc phòng XDCB nhập vào đội Sản xuất thành Đội Sản xuất – Dịch vụ. Tuyển dụng 47 người, trong đó có 20 nữ ; 01 người có trình độ trên đại học, 26 người có trình độ đại học, 03 Cao đẳng, 03 trung cấp và 13 công nhân (chủ yếu giaos viên lái xe) Hợp đồng 02 thợ bậc cao dạy thực hành cho HSSV. Giải quyết chế độ hưu trí cho 12 người, trong đó có 06 nữ.
          Lao động bình quân trong năm là  340 người, trong đó có 119 nữ. Lao động tăng trong năm là 49 người (có 20 nữ), lao động giảm trong năm là 19 người (có 09 nữ).
         Tổng chi lương và các khoản có tính chất lương của nhà trường là: 12 tỷ 541 triệu đồng, tăng 33,75% so với năm 2007 (Ngân sách cấp là:  3 tỷ 891triệu đồng). Tiền lương bình quân toàn trường: 3.380.000đồng/người/tháng; tăng 21,3% so với năm 2007 (Bộ phận đào tạo: 3.538.000 đồng/người/tháng, Bộ phận sản xuất xây lắp: 2.634.000đồng/người/tháng);
           Năm 2008 chúng ta đã làm tốt công tác an toàn lao động, không có một trường hợp tai nạn lao động nào xẩy ra.
          Năm học 2007 - 2008 có 98 giáo viên đạt GVG cấp trường; 16 giáo viên tham gia hội giảng cấp tỉnh đạt 02 giải nhất, 02 giải nhì, 02 giải ba, còn lại đạt giải khuyến khích. Trong hội thi tay nghề học sinh giỏi năm học 2007 – 2008 của Tỉnh Quảng Ninh tổ chức, đoàn HS của trường gồm 23 em đại diện cho các ngành nghề tham gia cuộc thi, kết quả đạt được : 15 giải nhất, 01 giải nhì, 04 giải ba và 02 giải khuyến khích. Hội thi tay nghề cấp quốc gia có 05 em, đạt được 01 giải ba và 04 giải khuyến khích ; trong đó 01 em được chọn đi thi tay nghề học sinh khối Asean.
Trong năm có 29 chiến sỹ thi đua cấp cơ sở, 185 người đạt danh hiệu Lao động tiên tiến, trong đó có 41 người được biểu dương; 02 đồng chí được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú là Hiệu trưởng Lương Văn Tiến và đồng chí Tô Văn Hưởng – trưởng phòng Đào tạo. Bộ Công Thương công nhận tập thể nhà trường là Tập thể Lao động tiên tiến xuất sắc năm 2008 và tặng thưởng bằng khen cho Khoa Cơ khí và Khoa Xây dựng, tặng thưởng bằng khen của Bộ trưởng cho 07 cá nhân. Hội đồng thi đua khen thưởng Tỉnh Quảng Ninh công nhận thành tích của nhà trường và tặng Cờ đơn vị xuất sắc trong công tác đào tạo nghề cho nhà trường, tặng bằng khen và giấy khen cho 01 tập thể và 04 cá nhân có nhiều thành tích.
            Năm 2008 Đảng bộ đã kết nạp được 11 đảng viên mới (có 02 đảng viên mới là HSSV) tỷ lệ kết nạp ĐV tăng 57% so với năm 2007; trong đảng bộ có 16 đảng viên được bình bầu là đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 22 ĐV được Đảng bộ biểu dương khen thưởng, 12/12 chi bộ trong nhà trường được công nhận là chi bộ trong sạch vững mạnh, trong đó có 08 chi bộ được xếp loại chi bộ trong sạch vững mạnh xuất sắc .
         Đảng bộ nhà trường được công nhận là Đảng bộ trong sạch vững mạnh xuất sắc. Công đoàn nhà trường được Công đoàn Công Thương Việt Nam tặng cờ Công đoàn cơ sở có phong trào thi đua và hoạt động công đoàn xuất sắc năm học 2007 – 2008.
             Nhà trường đã đưa ra nhiều biện pháp như cử cán bộ, giáo viên đến các trường THPT tổ chức tư vấn giới thiệu ngành nghề, sau đó bố trí xe ô tô đưa đón Cán bộ giáo viên, học sinh các  khu vực gần nhà trường đến thăm quan trường. Đồng thời nhà trường tổ chức hội nghị gặp mặt lãnh đạo các trường THPT và Trung tâm hướng nghiệp trong và ngoài tỉnh nhằm phối hợp giúp trường tuyển sinh cho những năm tới.
Kết quả tuyển sinh năm 2009: Tổng số tuyển : 2114 HSS
Trong đó:
- Hệ Cao đẳng tuyển 972 SV/900 ;
- Hệ Trung cấp CN tuyển 513 HS/400
- Cao đẳng nghề tuyển được 114/400
- Trung cấp nghề tuyển được 465HS/600
- Cao đẳng liên thông   tuyển 95 SV .
            Ngoài các hệ tuyển theo thỉ tiêu giao, năm 2009 vừa qua nhà trường còn tổ chức tuyển sinh đào tạo tại chức, đào tạo theo địa chỉ, đào tạo lái xe các hạng .v.v. gồm :
            - Đào tạo sơ cấp nghề:                tuyển 361 học sinh
            - Đào tạo lái xe ô tô:                   tuyển 4325 học viên
            - Đào tạo tại chức:                       Đại học tuyển   159 SV
Năm học 2008 – 2009.
           - Chất lượng đào tạo  96,8% đạt yêu cầu, 20,3% khá, giỏi.
 - Tốt ngiệp cao đẳng 100%,  TCCN 100%, nghề 96,7%,
             Rèn luyện đạo đức.
                Tốt, xuất sấc đạt 91%, loại TB 7,6%, loại yếu 1,4
           Thực hiện cuộc vận động: "Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục", đồng thời thực hiện tư tưởng chỉ đạo của Đảng uỷ và BGH nhà trường về việc đánh giá đúng chất lượng đào tạo, luôn luôn lấy chuẩn chất lượng theo yêu cầu xã hội làm thước đo, kiên quyết không để học sinh yếu kém tốt nghiệp ra trường.
            Liên kết với ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐH Điện lực đào tạo tại chức cho 674 sinh viên. Đào tạo, tổ chức sát hạch cấp giấy phép lái xe ô tô cho 4325 học viên, đạt tốt nghiệp 98,5% so với năm 2008. Đào tạo lại, nâng bậc cho các doanh nghiệp như Tổng C/ty Đông Bắc, C/ty cổ phần LILAMA-693 .v.v. 530 công nhân.
Trong năm nhà trường có 03 giáo viên đi nghiên cứu sinh, 18 GV trúng tuyển vào học cao học. Nâng số giáo viên đã TN thạc sĩ và đang học cao học lên 60 người.
Tổ chức 01 lớp bồi dưỡng cho cán bộ giáo viên về đào tạo theo tín chỉ.
Năm 2009 có 117 giáo viên giỏi cấp trường; 03 giáo viên giỏi cấp Tỉnh và 01 giáo viên giỏi cấp quốc gia. Nhà trường tham gia 3 thiết bị dự thi, kết quả được: 02 thiết bị đạt giải nhất và  01 thiết bị đạt giải nhì.
Năm 2008 có 01 đề tài NCKH cấp Bộ, năm 2009 có 01 đề tài NCKH  cấp bộ. 59 sáng kiến, 04 đề tài cấp trường được công nhận,
       Năm học qua, khoa Cơ khí đã thực hiện thành công việc nghiên cứu gia công các vỏ hộp điện phòng nổ cho Viên Khoa học Công nghệ Mỏ TKV và Viện Điện tử Tin học Tự  động hoá – Bộ Công Thương đã làm ra  340 sản phẩm với trị giá gần 02 tỷ đồng.
        Thực hiện tốt quy chế dân chủ, trong năm trong nhà trường không có đơn từ khiếu nại, tố cáo.
Tổng giá trị xây dựng cơ bản năm 2009 là 12 tỷ 295 triệu đồng; trong đó: xây dựng xong và đưa vào sử dụng  01 nhà học lý thuyết 4 tầng, 01 nhà hội trường lớn 2 tầng, mở rộng nhà ăn công nghiệp hơn 300m2, sửa chữa nâng cấp nhà ở, nhà làm việc và nâng cấp sân vườn hoa khu cảnh quan nhà trường bằng nguồn vốn tự có là 6 tỷ đồng; đầu tư xây dựng nhà học 9 tầng bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước là 6 tỷ đồng.
- Về mua sắm thiết bị: Đã mua 118 bộ máy vi tính, 12 máy chiếu đa năng, 01 ôtô tập lái, 01 máy tiện kích thước lớn, 01máy phay CNC, 02 bàn thực hành điện lạnh ôtô, 03 bàn thực tập điện tự động hoá, 01 bàn thực hành điện khí nén, 01 máy cân bơm cao áp và  04 thiết bị cắt gọt kim loại đơn lẻ...Tổng giá trị mua sắm là trên 3,2 tỉ đồng, tăng hơn 1,3 lần  so với kế hoạch.
- Doanh thu ngoài ngân sách:  31 tỷ 411 triệu đồng     
(bằng 116,8% so với năm 2008). Trong đó:
- Thu đào tạo                                               29 tỷ 310 triệu đồng
- Thu Thí nghiệp vật liệu xây dựng và SXKD   1 tỷ 913 triệu đồng
- Các khoản thu khác                                            188 triệu đồng
Ngoài ra nhà trường còn xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn tự bổ sung  giá trị với các công trình:
            - Nhà lớp học 04 tầng:                        2 252 triệu đồng;
            - Nhà Hội trường 02 tầng:                   2 214 triệu đồng;
            - Nhà ăn Công nghiệp:                           429 triệu đồng;
            - Công trình nhà ăn HSSV                       600 triệu đồng;
            - Sửa chữa, tân trang các C/trình và hạng mục   800 triệu đồng
            - Tuyển dụng: năm 2009 : 16 người.
Trong đó :
+ Bố trí làm giáo viên 15 người
            Gồm:   Đại học: 11  người
                       Thợ bậc cao:  03 người
                       Công nhân lái xe: 02 người.
 - Đề bạt, miễn nhiệm:  Đề bạt 04 giáo viên làm phó phòng và phó khoa.
- Trong năm nhà trường đã giải quyết cho 21 CBCNV nghỉ chế độ theo đúng qui định của nhà nước, trong đó có 12 nữ.
Lao động bình quân trong năm 2009 là  342 người, trong đó có 123 nữ.
Năm 2009 tổng chi lương và các khoản có tính chất lương của nhà trường là: 16 tỷ 500 triệu đồng, tăng 38,2% so với năm 2008 (ngân sách cấp là:  4 tỷ 118 triệu đồng)
+ Thu nhập bình quân toàn trường: 4.270.065 đồng/người/tháng; tăng 19,49% so với năm 2008. (Đào tạo: 4.535.771 đồng/người/tháng;Sản xuất xây lắp: 2.824.621đồng/người/tháng).
           Với sự tăng giá liên tục của nhiều loại vật tư, vật liệu xây dựng cơ bản, nhiên liệu, vật tư cho đào tạo và các nhu yếu phẩm trong đời sống xã hội, nó đã ảnh hưởng không nhỏ tới đời sống của cán bộ, giáo viên, công nhân viên và HSSV.
          Năm qua CBGV-CNV nhà trường đã có 143 sáng kiến cải tiến, tiết kiệm được báo cáo thực hiện trong tổng số 189 đề tài sáng kiến cải tiến được đăng ký từ đầu năm; có 265 Lao động tiên tiến. Trong đó :  có 32 người đạt danh hiệu CSTĐ cấp cơ sở = 9,8% ; 47 cá nhân đạt LĐTT Xuât sắc ; 117 giáo viên đạt Giáo viên giỏi cấp trường ; 18 /21 tập thể tổ, đội, phòng, khoa đạt LĐTT; nhà trường trích lập quỹ khen thưởng theo đúng chế độ chính sách của nhà nước, việc khen thưởng được công khai và có quy định rõ trong Quy chế chi tiêu nội bộ trinh Bộ Công thương để thực hiện; Trong năm không có CBGV-CNV nào bị kỷ luật từ cảnh cáo trở lên và không có vụ tai nạn lao động nào xẩy ra ; an ninh trật tự trong nhà trường luôn được giữ vững vì vậy nhà trường được Bộ Công Thương công nhận Trường đạt danh hiệu : Lao động tiên tiến xuất sắc, có 03 CBGV được công nhận danh hiệu CSTĐ cấp Bộ ; Bộ trưởng Bộ Công thương tặng bằng khen cho 03 tập thể và 9 cá nhân. Bộ trưởng Bộ Giao thông – Vận tải tặng bằng khen cho Trung tâm đào tạo Lái xe và tặng Bằng khen cho đồng chí Lương Văn Tiến – Hiệu trưởng về thành tích đào tạo và sát hạch cấp giấy phép lái xe năm 2009, bên cạnh đó nhà trường còn được UBND Thị xã Uông Bí và các ngành các cấp tặng nhiều giấy khen các loại.
          Năm 2009 đã kết nạp được 17 đảng viên trong đó có 12 đảng viên là HSSV. Đề nghị tặng huy hiệu 30 năm tuổi đảng cho 2 đảng viên. 13/13 chi bộ đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh, trong đó 05 chi bộ đạt danh hiệu chi bộ trong sạch vững mạnh xuất sắc tiêu biểu,  25 đảng viên hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 109 đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ; 08 đảng viên đủ tư cách hoàn thành nhiệm vụ.  Đảng bộ đạt danh hiệu Đảng bộ trong sạch vững mạnh tiêu biểu.
          Năm 2009 Công đoàn nhà trường được Công đoàn Công Thương Việt Nam tặng Bằng khen; Hội Cựu chiến binh nhà trường được UBND Thị xã Uông Bí tặng giấy khen.

 

 

 

TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHIỆP VÀ XÂY DỰNG
Phương Đông - Uông Bí - Quảng Ninh
Điện thoại: 02033.854497 - Fax:02033.854302
Email: cdcnxd@cic.edu.vn - cdcnxdub@cic.edu.vn
Ghi rõ nguồn "www.cic.edu.vn" khi phát hành thông tin từ website.